CHƯƠNG I:

Like & Share:

Tôi giật mình, bất thình lình tỉnh dậy. Mồ hôi vã ra như tắm. Tim đập thình thịch như trống trận. Cơn ác mộng khi nãy còn ám ảnh tôi không dứt ra nổi. Tôi đã mơ về bọn chúng. Bọn người máy, với những khẩu súng, tốc độ khinh hoàng.

Tôi trằn trọc. Thế đấy! Tôi không ngủ lại được nữa, chỉ vì một cơn ác mộng.

Tôi bắt đầu nằm suy nghĩ vẩn vơ. Đồng hồ điểm 3 giờ sáng.

Tôi bắt đầu nhớ lại những tầng lớp thời gian trong quá khứ, khi mà con người còn nắm quyền cai quản mặt đất. Thế rồi, tai ương xảy đến…

Về cuộc sống dưới lòng đất, ngày xưa, khi mà Trái Đất còn trọng quyền kiểm soát của con người, hẳn rằng người ta nghĩ sống dưới lòng đất vui lắm. Nhưng giờ đây, trái lại, nó là cơn ác mộng. Phải chi họ còn sống để mà thấy được chúng tôi phải sống khổ sở thế nào dưới lòng đất: thiếu khí do không khí chỉ được cung cấp qua các ống dẫn khí được dựng ở Bắc Cực và Nam Cực, ánh sáng nhân tạo, đất đai cứng đến độ chỉ có một số ít mới có thể canh tác, trồng trọt và chăn nuôi nổi. Resuscitate cũng đã nhiều lần bắt tay vào giải quyết vấn đề này, nhưng cải tạo được đất ở đây không phải là dễ. Vậy nên không lạ gì khi mà có những năm nạn đói hoành hành khiến hơn một triệu người trở thành người thiên cổ.

Nhưng thà sống chết đói mà được an toàn còn hơn là sống no đủ mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ rằng bọn người máy sẽ đến bất cứ lúc nào. Sau cuộc nổi dậy lật đổ nhân loại và khai sinh ra “Đế chế Thép” của bọn người máy, những người sống sót còn lại đã tìm cách để duy trì dòng giống loài người và lật đổ bọn người máy. Và biện pháp sống còn ấy là: di cư xuống lòng đất bên dưới đáy đại dương. Đôi khi nghe hơi lạ vì tại sao không sống trong lòng đất của lục địa, mà phải vất vả trốn chạy ra biển làm gì? Thực ra cái gì cũng có cái lý do của nó. Những người còn sống sót chỉ chọn vùng lòng đất bên dưới đáy vùng biển khơi sâu trở đi, cách mặt biển chừng 4000m trở xuống để sống. Bởi họ đã tính toán rằng từ độ sâu 4000m trở xuống áp lực nước đủ lớn để giết chết bất kì sinh vật nào khi lặn xuống. Bọn máy móc kinh dị kia sẽ không lặn xuống nổi, trừ khi chúng muốn tự sát bằng cách tự hoen gỉ thân thể hoặc tự huỷ hoại mạng sống của chúng bởi áp lực nước. Nếu chúng tiến hoá? Nhưng điều đó là vẫn là bất khả thi. Vì đã một thế kỷ trôi qua kể từ cuộc nổi dậy, không một con robot nào có dấu hiệu tiến hoá để chống lại áp lực nước. Nghe có vẻ hơn vô lý, nhưng đúng vậy đấy. Vì con chip tự huỷ ở sâu trong trung tâm đầu não chúng, sẽ bùng nổ nếu như gặp áp lực nước quá lớn. Cho dù chúng có gia cố lại lớp vỏ  chắc chắn để chống lại áp lực nước đến đâu, vẫn không gia cố được lớp vỏ trên đầu não của chính chúng. Vì chúng thiếu đi sự khéo léo, chỉ cần trật tay là coi như chúng đã tìm đến cái chết một cách ngu ngốc nhất, khi phá huỷ bộ não của chính bản thân. Nên tôi thấy chúng đành chọn cách lì lại trên mặt đất còn hơn là chết một cách ngu ngốc.

Tuy vậy, những người nào sống ở tầng đất thuộc phần đáy biển càng sâu vẫn càng tốt, như phần lòng đất dưới rãnh Maria chẳng hạn, càng đỡ phải chạm trán với bọn người máy, mặc dù ở đáy càng sâu càng thiếu khí. Nhưng bạn muốn chết vì thiếu khí hay là chết vì chết dần chết mòn đau đớn dưới sự tra tấn của bọn người máy, thì tôi nghĩ bạn nên chọn vế trước.

Có tất cả 43 tầng đất, kéo dài từ phần đáy đại dương xuống phần đầu của lớp phủ trên trong lòng Trái Đất. Mỗi tầng cao 10km, diện tích bao nhiêu thì tôi không biết. Nhưng khá là rộng, bởi nó đủ sức chứa sáu tỉ người còn sống sót – thậm chí còn đang tăng lên – trong hơn chục năm trời kể từ cuộc nổi dậy mà không bị suy giảm diện tích. Giữa mỗi tầng đất chống khoảng vài trăm cây cột, để chống đỡ cho tầng đất phía trên khỏi bị sụp xuống. Trong số 43 tầng đất ấy, thì căn cứ của các nhà khoa học, Trinh thám của Resuscitate nằm ở tầng thứ nhất. Khá là nguy hiểm, gần ngay đáy biển, không chết vì người máy(mặc dù khả năng chúng lặn xuống được là rất ít nhưng không có nghĩa là chúng không làm được) thì cũng chết vì áp lực nước. Nhưng tôi tin họ đủ thông minh để sống sót. Dần dần, từ tầng thứ nhất xuống tầng hai, tầng ba,… Rồi đến tầng của tôi, tầng 16. Mặc dù ở khá sâu, nhưng tôi vẫn lo. Tính từ tầng thứ nhất đến tầng thứ 20 là vừa đủ độ dài trong tầm ngắm bắn của bọn robot, tức là giả sử bọn người máy có bất ngờ tấn công thì hơn một tỷ người dân từ tầng 1 đến tầng 20 chết chắc.

Dù vậy, sống từ tầng 24 trở xuống cũng chẳng vui vẻ gì. Từ tầng 24 đến tầng 43 là thuộc “vùng nóng” – cách mà người ta gọi lớp phủ trên của Trái Đất. Sống trong lớp phủ trên nóng hơn cả sống ở sa mạc. Ranh giới của lớp phủ với lớp vỏ trên của Trái Đất có nhiệt độ lên đến 500oC đến 900oC. Có lẽ người dân dưới đó đã chết vì bỏng xác tự đời nào nếu các nhà khoa học không phát minh ra thứ gọi là thuốc phiện lạnh( Cold Morphin). Thứ thuốc ấy tiêm vào người sẽ giúp cho nhiệt trong cơ thể con người giảm xuống đến mức tối thiểu để khả thi cho việc trao đổi với nhiệt độ nóng rãy của lớp phủ trên. Tuy vậy, liều thuốc này chỉ đủ phát tác trong một năm. Hết tròn một năm, nếu quên đi tiêm thêm thuốc thì xác định bạn chết cháy đi là vừa.

Vậy nên tôi thích nhất là sống ở tầng 21, 22, 23 – vừa an toàn mà đất đai lại dễ trồng trọt. Đáng ra tôi đã sống ở đó, nếu mẹ tôi không theo cha lên trên tầng 16.

Tuy vậy, tôi vẫn tìm mọi cách để xuống dưới đó, mặc cho anh trai tôi ngăn cản. Tôi nhón chân nhẹ nhàng trên hành lang, thật khẽ để không đánh thức anh trai tôi vẫn còn đang say ngủ, rồi xuống tầng một, khẽ khàng đẩy nhẹ cánh cửa phòng ngủ của mẹ, khẽ khàng, rón rén đi vào.

Căn phòng trống vắng. Căn phòng lạnh lẽo. Căn phòng đơn sơ được cha tôi thiết kế riêng cho mẹ tôi khi bà đã liều lĩnh bỏ theo ông khi mới 16 tuổi đầu, mặc kệ sự ngăn cản, trách móc của họ hàng. Rồi bà hạ sinh đứa con đầu, anh trai tôi cũng chỉ khi mới vào độ tuổi ấy. Luật pháp chẳng để ý gì đến chuyện bà ấy làm mẹ ở độ tuổi sớm như vậy. Đúng ra thì hệ thống luật pháp dưới lòng đất khá là lỏng lẻo. Họ sẽ chỉ bỏ tù bạn, thậm chí hành hình nếu bạn giết người, nhưng nếu bạn sinh con, thì cho dù bạn đang ở cái tuổi vị thành niên – độ tuổi mà trước kia nếu bạn sinh con là sẽ bị hắt hủi này nọ – bạn vẫn được tha, kể cả người làm bạn có con cũng vậy. Tuy thế, luật pháp cũng không quá lỏng lẻo. Bất kì người đàn ông nào làm phụ nữ có con mà chối bỏ trách nhiệm nhận vợ con sẽ vẫn bị bỏ tù, ngang ngược quá sẽ bị hành hình.

Không phải tự nhiên mà Resuscitate lại cho phép việc này. Lý do họ khuyến khích sinh nở và kết hôn sớm là vì dân số dưới lòng đất. Sau cuộc càn quét đẫm máu của bọn người máy, hơn hai tỷ người đã chết. Một con số mất mát khủng khiếp. Và Resuscitate muốn gia tăng lại số dân ấy. Đấy là một lý do, còn lý do còn lại là gì thì tôi không biết. Anh tôi chỉ cho tôi biết đúng một lí do.

Tôi với tay mở tủ, lấy cái áo len trắng xoá cũ của mẹ. Bảo là cũ nhưng nó trông không đến nỗi tồi, chí ít là không bị nhuốm màu cháo lòng. Cái áo vừa khít với tôi. Và khi soi trong gương, tôi lại bất giác thấy hình ảnh quen thuộc của mẹ tôi. Cũng phải thôi, người ta bảo tôi giống mẹ như lột, một mối quan hệ ngoại hình gắn bó giữa con gái và người mẹ. Ở đây là giữa dương với âm.

Vì mẹ tôi đã mất khi sinh tôi, năm bà ấy mới 18 tuổi. Độ tuổi cực kì trẻ. Bởi vậy nên tôi mới chỉ biết mặt mẹ qua hình ảnh tôi soi chính bản thân trong gương, bởi bà ấy rất ghét chụp ảnh, nên chẳng còn lại bất cứ hình ảnh nào của bà ấy cả.

Vậy là phần trang phục gần như đã xong: áo len trắng giản dị. Trông khá là tương hợp với bộ đồng phục tôi đang mặc: áo sơ mi đen với thắt caravat xanh biển nhạt, quần bò màu đen sẫm. Giờ tôi chỉ cần đi tìm một cái áo khoác và một đôi ủng, vì hôm nay hình như trời khá lạnh, nếu chỉ mặc đồng phục thì chắc tôi chết cóng mất. Áo khoác của mẹ tôi thường hoa hoè và pha đậm màu sắc nữ tính nên tôi không bao giờ đụng đến. Còn ủng thì bà ấy tuyệt nhiên không có. Cũng chẳng lạ khi mà ai cũng nói thật ngạc nhiên khi mà ngoại hình thì giống nhưng độ nữ tính của tôi tỉ lệ ngược hoàn toàn so với sự dịu dàng, ôn nhu của mẹ tôi khi sinh thời. Chẳng làm sao cả! Mẹ cho tôi nhan sắc của bà thì cha cho tôi tính cách mạnh mẽ và lòng can đảm bẩm sinh.

Tôi lặng lẽ khép cửa phòng ngủ của mẹ, rồi rón rén sang phòng làm việc của cha. Căn phòng vẫn gọn gàng sạch sẽ kể từ lúc ông đi, chỉ có điều lạnh lẽo và trống vắng bóng cha tôi. Gần cửa sổ là chiếc bàn làm việc cũ – một người bạn tri kỉ luôn thức thâu đêm cùng cha tôi vào những ngày sổ sách công việc lẫn bài tập ngập lún đầu, bởi cha tôi phải vừa học vừa làm để nuôi gia đình. Trên bàn, một chiếc bút máy. Chiếc bút đen bóng loáng – kỉ vật của mà mẹ tôi mua tặng ông nhân kỉ niệm tròn một năm hẹn hò – là vật duy nhất mà hồi còn bé thôi nôi, mỗi khi tôi khóc đòi cha mẹ, anh tôi lại đưa nó cho tôi cầm múa máy, ngắm nghía như để an ủi. Nhẹ nhàng đặt cây bút xuống bàn, tôi tiến đến tủ quần áo, khe khẽ mở cánh cửa tủ.

Đương nhiên là cha tôi cũng chẳng còn nữa. Cũng không hẳn là chẳng còn. Ông bị gọi tên trở thành “Chiến binh Cảm tử” vào năm ông mười tám tuổi, ngay trước vài tháng tôi ra đời. Và ông đã đi lên mặt đất, xông pha vào chiến trường, chiến đấu một cách anh dũng. Nhưng cái giá phải trả là sự mất tích. Đã nhiều năm rồi, người ta vẫn chưa thông báo gì về tin tức của cha tôi. Sự tồn tại của ông lúc này chẳng khác gì một vật mờ mịt đằng sau lớp sương mù dày đặc.

Đây rồi! Chiếc áo khoác da màu đen đã hơi sờn vai của cha tôi. Bên trong có lót bông rất ấm, lại ôm khít người nên rất thích hợp để mặc ra ngoài khi gió lạnh. Trong góc tủ, là đôi ủng da của ông. Hình như cha tôi đi nó rất ít nên đôi ủng vẫn mới như thường, đen bóng và thơm mùi da mới cóng. Tôi chưa từng đi đôi ủng này nên cảm giác khi xỏ chân vào, lớp da mềm mại trong ủng khít khịt ôm lấy chân tôi thật là thoải mái. Tôi thử đứng dậy, gõ gõ nhẹ đầu ủng xuống sàn nhà. Những tiếng “cộc, cộc” vang lên vừa mạnh mẽ, chắc chắn là vừa êm ái chứng tỏ độ bền và xịn của đôi ủng này không phải dạng vừa đâu.

Tôi khoác chiếc áo khoác da lên, kéo khoá lên và đi xuống dưới nhà, lật lồng bàn ăn cơm lên. Một miếng bánh mì. Đã hơi ỉu nhưng vẫn còn ngon lành chán, cạnh đó là miếng bơ thực vật thơm lừng gói trong giấy bạc. Tôi cũng chẳng ghi vào mảnh giấy nhớ nhắn cho anh trai tôi là tôi sẽ xuống tầng 21. Anh tôi cấm tôi xuống đấy. Mặc kệ rằng anh tôi sẽ lo lắng, tôi gói bánh mì và bơ lại trong giấy báo, bỏ vào cái túi vải nhỏ khoác trên vai rồi chạy biến ra đường.

Thật kì lạ khi ở nói ở dưới đất cũng có khí lạnh. Không lạ đâu. Các nhà khoa học đã sáng chế ra một loại máy điều chỉnh thời tiết. Cái máy này được lắp trên tầng 1. Từ tầng 1, hiệu ứng thời tiết từ cái máy sẽ truyền xuống các tầng dưới. Vậy là mặc dù phải sống dưới lòng đất, chúng tôi vẫn biết thế nào là thời tiết, thế nào là bốn mùa,…

Liếc nhìn đồng hồ công cộng, mới bốn giờ kém mười lăm phút sáng. Giờ này mọi khi có lẽ mọi người còn ngủ vùi trong đệm, ngoại trừ những người làm các công việc nặng nhọc thì lục đục đi làm. Nhưng đã gần kề tuần lễ “Thép và Máu” nên mọi người dậy sớm. Hầu hết là người lớn. Trẻ con và thanh thiếu niên trạc tuổi tôi thì lác đác vài người. Có lẽ họ cũng háo hức lẫn mong chờ và sợ hãi tuần lễ “Thép và Máu” nên không ngủ được giống tôi chăng?

Tôi đến cây cột chống thứ 23 – một trong hàng chục những cột chống của tầng 16 chống đỡ cho những tầng phía trên. Cây cột này nằm gần nhất với nhà tôi. Tôi sẽ xuống tầng thứ 21 bằng cột này.

Muốn lên xuống giữa các tầng thực ra đi bằng một thứ gọi là tàu thang máy. Họ lắp đặt các đường ống di chuyển cho những con tàu này. Bên trong ống là các đường ray gắn vô số nam châm điện. Đi tàu này thì theo một số người cao tuổi nói, giống như chơi trò chơi gọi là tàu lượn siêu tốc trong những nơi mà họ gọi là công viên hồi còn sống trên mặt đất. Nhưng khác với cái tàu lượn siêu tốc kia, tàu này không chỉ chuyển động dựa trên nguyên lí lực li tâm mà còn cả vào lực hút của nam châm điện để bám sát trên đường ray. Còn tại sao lại phải lắp ống bao ngoài các đường ray ư? Làm thể để bảo vệ mạng sống con người lẫn độ bền của đường ray. Đi tàu ấy cũng nhanh nhưng phải chờ lấy vé rất lâu, nên tôi chọn con đường khác: đường vận chuyển.

Đường vận chuyển thường là để chuyển thư từ, hàng hoá giữa các tầng với nhau. Đó cũng là con đường để mà giới khoa học của Resuscitate vận chuyển các món hàng mới sáng chế được đến các tầng. Có hai đường: gửi đi và gửi về. Đường gửi đi sẽ được quết một lớp nhựa trơn để hàng hoá được chuyển xuống nhanh hơn, còn đường gửi về sẽ có hệ thống ròng rọc để người ta kéo hàng lên. Đường vận chuyển sẽ là con đường để tôi chuồn xuống tầng 21 mà không sợ tốn tiền mua vé tàu.

Tôi đến chỗ cái máng của đường gửi đi – cái máng được cuốn quanh cây cột chống thành hình xoắn ốc dẫn xuống bên dưới – chú ý chờ xem có hàng hoá gì được gửi xuống không, bởi nếu làm hỏng hàng hoá sẽ rất phiền. Rất may, sáng sớm nên máng gửi đi trống không. Tôi nhẹ nhàng trèo vào máng, ngồi phịch xuống. Vừa đặt người xuống, và thả tay bám khỏi mép máng, tôi lập tức trượt đi, rất nhanh. Có thể thấy thứ nhựa nhân tạo này thực sự hữu dụng cho việc vận chuyển. Tôi ngay lập tức đã trượt xuống tầng 17. Đường đến tầng 21 xem ra còn xa lắm. Nhưng kệ, còn hơn là đi tàu vòng vèo. Tôi chạy đến cây cột chống gần đó, trượt tiếp xuống. Lại một vố thót tim, gió thổi vù vù bên tai vì máng trượt quá trơn, nhưng dần dà tôi cũng quen khi trượt qua các tầng tiếp đó.

Điểm dừng chân cuối cùng, tầng 21. Ở đây người dân – chủ yếu là học sinh – cũng ra đường đông hơn thường lệ. Cũng dễ hiểu thôi. Tầng 16 và 21 là hai trong tổng số 10 tầng có trường học giỏi – không những đào tạo những “Chiến binh Cảm tử” thiện chiến mà còn đào tạo cho họ một bộ óc tri thức hoàn hảo.

– ANH HUYỀN!!! – Tôi vẫy tay, gọi to đứa em kết nghĩa còn đang ngơ ngác trong đám đông.

Cũng chẳng mất đến nửa giây, con nhỏ đã nhận ra tôi đằng xa gần cái trụ chống bằng đá. Nó chạy đến tay bắt mặt mừng như thể tôi với nó chưa gặp nhau lâu rồi không bằng.

– Nhã xuống đây có chuyện chi không? – Huyền hỏi, tay nắm lấy tay tôi dắt đi.

 – À… ử… Thì… – Tôi lắp bắp – Xuống đây thăm Huyền chút thôi! À! Huyền có sợ không?

– Sợ gì?

– Tuần lễ “Thép và Máu” ấy?

– À… – Huyền chỉ trả lời nhỏ cho có rồi cúi gằm mặt xuống

Tôi giật mình rồi tự trách bản thân. Sao tôi có thể hỏi thăm Huyền về tuần lễ ấy cơ chứ. Tôi đúng là một đứa tồi mà. Tôi nhớ là vào tuần lễ “Thép và Máu” hai năm trước. Năm ấy, tầng 16 nằm trong danh sách ba tầng phải chọn ra “Chiến binh Cảm tử” , anh hai Huyền đã bị chọn cùng với một người con gái khác để trở thành “Chiến binh Cảm tử” gánh vác “Nhiệm vụ Sinh tử”. Anh ấy đã không trở về nữa. Mãi mãi không trở về. Người ta nói rằng anh ấy là người hiếm hoi sống sót còn lại cùng với một nam đồng đội người Kenya. Hai người họ đã chuẩn bị một kế hoạch hoàn hảo để phá huỷ hoàn toàn một Main Life Server để mà bọn robot không thể hồi phục lại được Main Life Server ấy. Nếu kế hoạch thành công, thì bọn robot sẽ mất một nguồn năng lượng sống quý giá bởi Main Life Server thường cung cấp năng lượng cho những robot hạng cao. Thiếu đi các robot hạng cao “Đế chế Thép” sẽ mất đi một trụ cột chống đỡ và nhân loại sẽ tiến thêm một bước trên con đường chiến thắng. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Bọn người máy đã đánh hơi thấy kế hoạch. Chúng đã chặn đánh hai người ngay khi họ vừa mới với tới Main Life Server. Nhưng đánh xong rồi chúng cũng không phải dạng vừa. Chúng thậm chí còn tiêm chất độc vào cơ thể hãy còn đang thoi thóp của hai người họ, làm họ như dở sống dở chết. Chất độc này làm cho con người ta chết trong đau đớn từ từ với cảm giác da thịt như bị ăn mòn như khi dính acid, khi nội tạng như bị dày xéo quằn quại. Các mụn mủ nổi lên như vết ong đốt trên da thịt. Cuối cùng, chúng quẳng thây hai người xấu số xuống biển – như bao người đã chết khác. Đội thợ lặn với nhiệm vụ tìm xác người của Resuscitate đã vớt xác họ và gửi về nhà. Chao ôi! Khi nắp chiếc hòm gỗ đựng xác được gửi đến và mở ra, mọi người gần như ngất xỉu. Mặc dù các bác sĩ của Resuscitate đã tắm rửa, thay quần áo và dọn dẹp những thương tổn trên cơ thể của anh trai Huyền nhưng mùi mủ vẫn xông lên ngai ngái khắp cả gian nhà nhỏ bé của gia đình Huyền. Tôi nhớ lúc đó, mẹ Huyền đã ngất đi vì sốc, cha Huyền thì đã khóc rất nhiều trước thi thể gần như chẳng còn nguyên vẹn của con trai ông. Ông la hét, chửi rủa lũ người máy, oán hận chúng cũng như thứ chất độc đã hại chết và tàn phá con trai ông. Tôi nhớ Huyền khóc rất nhiều, rồi kiệt sức ngất lịm đi. Nghe nói từ ngày tang thương ấy cho đến bây giờ, hình như tối nào ngủ Huyền cũng gặp ác mộng, ám ảnh về cái chết của anh trai. Còn tôi thì nơm nớp lo sợ rằng cha tôi cũng sẽ rơi vào tình cảnh bạc mệnh tương tự.

Tôi đặt tay lên vai Huyền:

 – Nhã xin lỗi! Nhã không nhớ là…

– Không! Không sao đâu, Nhã! – Huyền đưa tay lau nước mắt – Giờ mình đi học đây, sắp muộn rồi.

– Đi học… Ôi! Huyền nhắc Nhã mới nhớ đấy! – Tôi kêu lên. Tôi đã quên bẵng mất là hôm nay tôi vẫn phải đến trường.

– Làm sao bây giờ? – Tôi bối rối – Muộn học mất! Anh hai Nhã cốc đầu Nhã mất!

– Thì dăm phút nữa Nhã về đi học. Cũng chưa muộn đâu! – Huyền trấn an tôi. Cái con bé này, tôi thực sự rất mến nó vì những lúc trấn an tôi thế này đấy!

Tôi theo Huyền vào rừng. Nói là rừng cũng không đúng lắm. Đúng ra là trừ tầng 1, thì ở mỗi tầng người dân đều để để chừa ra một khoảng đất rộng để trồng cây, gọi là rừng cho có. Đối với họ – những người sống sót sau vụ nổi dậy – thì đây không phải là rừng, đúng ra là không giống như rừng trên mặt đất. Nhưng đối với những đứa trẻ được hạ sinh dưới lòng đất hay những thanh thiến niên như tôi và Huyền, thì rừng quả là một khái niệm xa lạ như công viên vậy. Vì chúng tôi được sinh ra bên dưới lòng đất, và dưới lòng đất thì hầu như không tồn tại những khái niệm ấy. Vậy nên, dù cây cối có thưa thớt, tôi vẫn công nhận đây là rừng thực sự.

Chúng tôi chọn một mô đất cao, cỏ mọc xanh tươi tốt để ngồi. Huyền lôi bánh mì và bơ ra. Nhỏ lấy ra trong góc chiếc túi vải của nhỏ một con dao( lắm lúc tôi không hiểu nhỏ lúc nào cũng mang theo dao để làm gì). Nhỏ cắt và phết bơ lên bánh mì. Rất khéo. Như một thợ làm bánh tài năng.

Tôi đón lấy miếng bánh mì bơ từ tay nhỏ, ngồi nhai. Bánh mì ỉu, dai như gân bò. Nhưng còn xa xỉ chán. Tôi nghe đâu ở những tầng đất dưới kia, hàng ngàn người còn phải bỏ mạng vì nạn đói ăn do đất ở đó không trồng trọt nổi.

Tôi nhai rệu rạo miếng bánh mì, mắt xa xăm đưa nhìn thành phố. Trên trần của tầng đất , các Mặt Trời nhân tạo mini bắt đầu toả sáng. Đó cũng là một phát minh của giới khoa học tại tầng 1. Tôi cũng thầm cảm ơn họ. Nhờ vậy mà tôi biết Mặt Trời trông như thế nào. Mặc dù nó không giống với Mặt Trời thật khi nhìn trên mặt đất. Mặt Trời thật, trên bầu trời thật. Bầu trời thật trông như thế nào nhỉ? Nó có màu gì? Mây là gì? Mưa là gì?… Có vô số thứ tôi thắc mắc và tò mò được chứng kiến bên trên kia, trên mặt đất…

Xong xuôi bữa sáng, tôi tạm biệt Huyền, trở về tầng 16. Tôi không muốn bị muộn học. Lúc về thì có dễ hơn vì hệ thống ròng rọc. Tôi chỉ cần ngồi vào một cái thùng gỗ, giật dây để người ta kéo lên. Hệ thống ròng rọc thì chạy liền một mạch vì hệ thống được gắn trên trần đất của các tầng, nên đi lên không vất vả bằng đi xuống – cứ trượt xuống một tầng lại vất vả chạy ra chỗ máng vận chuyển của tầng đó để trượt xuống tiếp.

Đáng ra người ta sẽ quở trách tôi vì cách đi lại bất hợp pháp này nhưng rất may, người phụ trách kéo hàng của tầng 16 là bác Johanna Trần – một người Mĩ gốc việt và là người quen của cha mẹ tôi. Bác đã quen viêc đưa tôi lên nhiều lần nên đều cười trừ cho qua việc tôi di chuyển lên xuống không hợp lệ giữa các tầng.

Lần này cũng không ngoại lệ. Sau khi chào bác, tôi chạy thục mạng đến trường. May là còn kịp năm phút cuối. Tôi mà bị muộn học thì chắc chắn anh tôi sẽ phạt tôi cho mà xem.

Trường Resuscitar cách đó khá xa. Nếu tôi không bắt nhờ những chuyến xe ngựa khéo, thồ hàng thì đã muộn rồi. Mọi người cũng quý mến tôi, nên cũng không ai cảm thấy phiền hà khi tôi đi nhờ. Một phần là họ quý cha mẹ tôi, một phần là vì tôi hay làm không công cho họ một số việc vặt vào ngày nghỉ. Nhưng cũng phải mất 10 phút tôi mới chạy xồng xộc vào cổng trường.

Các lớp học đã đông đủ học sinh. Nhưng vẫn lác đác một số học sinh còn chạy chơi qua lại trên các hành lang, tranh thủ thư giãn trước khi vào học. Vậy là còn sớm chán.

 Học sinh người Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á,… đi lại trên hành lang đông đúc. Có thể bạn sẽ thắc mắc rằng sao dưới lòng không phân chia thành các quốc gia. Đáp án rất dễ. Việc đó rất tốn thời gian. Hơn nữa, trong tình cảnh này, thì chúng tôi cũng chẳng bất đồng ngôn ngữ nổi với nhau nữa. Dần dà, chúng tôi tự học, trao đổi ngôn ngữ với nhau. Cứ thế trong một thời gian dài, tôi thông thạo đến 8 thứ tiếng ngoài tiếng mẹ đẻ ra: tiếng Nhật, tiếng Anh – Mỹ, tiếng Anh – Anh, tiếng Nga, tiếng Châu Phi( tiếng của quốc gia nào thì tôi không để ý), tiếng Đức, tiếng Hàn, tiếng Trung. Tất cả là nhờ tôi khá là cởi mở, và một lý do nữa là gia đình chúng tôi là người Việt duy nhất ở tầng 16. Nhưng có vẻ như tuần trước, tôi nghe đâu chuyện có thêm một người Việt Nam chuyển xuống từ tầng 1. Và tất nhiên là tôi không còn là học sinh Việt Nam duy nhất nữa.

Ngôi trường tôi đang học là ngôi trường duy nhất của cả tầng 16. Trường do Resuscitate xây dựng nên nghiễm nhiên trở thành một trong những ngôi trường “vàng” trong hệ thống những ngôi trường đào tạo xuất sắc của Resuscitate. Trường cũng khá lớn, đúng ra là khổng lồ nên đủ sức chứa được hơn vài tỷ học sinh.

Hệ thống giáo dục của chung các trường học dưới lòng đất là bốn bậc học, 15 năm học. Năm nhất là từ lớp 1 đến lớp 5. Năm hai là từ lớp 6 đến lớp 9. Năm ba là từ lớp 11 đến lớp 12. Còn năm cuối thì đặc biệt hơn, lớp 13. Học lớp 13 thì chỉ học trong một năm. Học cũng khá mệt nhưng kiến thức thì có cắt giảm đôi chút, chỉ học những kiến thức có thể áp dụng tính toán và nhìn nhận vào thực tế, còn những lý thuyết thì học sinh tự học trong thư viện trường, nếu tò mò. Ngoài ra, người ta còn huấn luyện học sinh sau mỗi giờ học. Mọi học sinh đều được học và huấn luyện cách chiến đấu, sử dụng súng tấn công robot.

Tiếng chuông reo lên báo vào giờ học. Ngay lập tức hành lang vắng tanh, học sinh rút hết về lớp.

Bản thân tôi cũng đã yên vị trong chỗ ngồi, bên cạnh con bạn thân nhất của tôi – Rachel Tsuguyama, một người Mỹ gốc Nhật. Nó là vừa là bạn cùng bàn, lại vừa là bạn thân nhất của tôi ở trường. Nhiều những khi nhờ nó mà tôi cảm thấy bớt cô đơn.

Chưa đầy nửa phút giáo viên chủ nhiệm của chúng tôi, cô Madelle – một người Anh – bước vào. Vẻ mặt cô trông có vẻ rất nghiêm trọng.

– Các em… – Cô Madelle mở lời, thở dài – Năm nay trường ta lại vào tầm ngắm của Resuscitate rồi…