Chương 9: Những điềm báo

Like & Share:

Hùng Vương có hai cô con gái. Cô chị là Tiên Dung thì đã thành vợ của Chử Đồng Tử từ lâu. Cô em là Mỵ Nương mới tròn đôi chín, dung mạo xinh đẹp khác thường, ai trông thấy cũng phải say đắm, lại bẩm sinh thông minh tinh ý, phải nỗi tính tình hoạt bát, thích náo động, ưa nghề cung kiếm, không chịu an phận nữ nhi mà thường tìm tòi đủ cách để chơi bời. Vua cha thương nàng nên hay chiều chuộng chẳng trách cứ gì, thành ra nàng cũng ngông nghênh lắm, chưa nếm mùi đau khổ bao giờ. Hôm ấy Mỵ Nương cũng theo cha đi làm lễ Tế Bia, tan lễ nàng chẳng chịu về mà cải trang thành một cô thôn nữ ăn mặc diêm dúa, lại đeo lên mặt một lớp hóa trang cho ra xấu xí, rồi lẻn vào chốn nhân gian đi chơi.

            Đi ngang qua một cái ấp nọ, thấy dân tình  đang nhộn nhịp tổ chức các trò vui, Mỵ Nương bèn hỏi một người xem ấp này là ấp nào. Người kia thấy nàng rách rưới lại bẩn thỉu thì hơi ngại nhưng cũng đáp: “Ấp này gọi là ấp Chiêm, nằm ngay dưới chân vua chẳng lẽ mày không biết, có phải từ xa mới tới đây hay không?”

            Mỵ Nương gật đầu qua loa rồi chạy đi. Nàng thấy phía xa xa có một đám người đông tụ tập trên bãi ruộng thì vội vàng chạy tới, hóa ra là một cuộc đua trâu, chung quanh người xem kín mít. Nàng chen vào nhìn, ở đầu bên kia bãi có sáu bảy con trâu đực đã chực sẵn chuẩn bị xung trận, trên sừng mỗi con có buộc một dải khăn màu để phân biệt. Những người đi xem đang hăng hái cá cược với nhau xem trâu nào sẽ về trước.

            Một gã thanh niên cầm cái chiêng chạy chung quanh bãi, vừa gõ om sòm vừa rao rằng: “Nào bà con, xin mời bà con đặt cược đi nào, để xem ai may mắn hôm nay, đặt dô đặt dô.”

            Có người tháo tấm áo da trên người ném xuống đất nói: “Tao bảo con trâu đỏ về trước, có ai dám cá không?”

            Người đánh chiêng gõ xoảng một phát nói: “Có người đặt trâu đỏ, có người đặt trâu đỏ.”

            Tức thì có người thu lấy cái áo da bỏ vào một trong số bảy cái vòng tròn đã vẽ sẵn trên bãi.

            Một thanh niên khác tháo sợi dây chuyền ở cổ ném xuống trên cái áo bảo: “Tao có sợi dây nanh cọp đây, cá vào con trâu xanh.”

            Sợi dây chuyền lại được để vào một cái vòng khác.

            Bốn năm người nữa theo về con trâu xanh, họ lần lượt đặt cược những thứ mình có mang theo, người thì một thúng khoai, người thì ngọn giáo đồng, có người còn ném ra cả một con nai mới săn được. Cái vòng tròn chứa đồ cá cho trâu xanh nhanh chóng cao lên.

            Bỗng có một người trung niên gào lên: “Bọn mày biết cái gì mà đòi cá, tao bảo là con trâu trắng về nhất chẳng sai, đây tao có một thỏi vàng.” Nói rồi quăng thỏi vàng ra. Một số đông người thấy gã ta chắc miệng thì cũng hùa theo đặt vào. Chỉ một lát đống đồ đặt cho trâu trắng đã cao hơn cả cho trâu xanh.

            Mỵ Nương thích thú cũng lấy trong người ra một cái vòng ngọc rất đẹp đặt vào cho con trâu chàm.

            Việc cá cược diễn ra khá lâu, mãi cho tới khi bảy cái vòng tròn đã chất đầy đồ rồi mới chấm dứt. Người đánh chiêng gõ loảng xoảng nói: “Đã đến giờ đua, mời mọi người chú ý cẩn thận xem trâu nào về trước.”

            Bảy con trâu ở đầu bãi bên kia liền được thả ra sau một hồi trống hiệu. Chúng cắm đầu cắm cổ tranh nhau chạy về đầu bãi bên này, không con nào chịu nhường con nào. Ra đến giữa bãi con trâu đỏ bị con trâu xanh húc cho một cái vào giữa sườn, máu phụt ra tung tóe rồi té nhào xuống đất lăn lộn mấy vòng không đứng dậy được nữa. Con trâu lam và con trâu vàng vấp vào nhau cũng lăn kềnh ra trượt dài trên bãi. Rốt lại chỉ còn bốn con chàm, xanh, nâu, tím đua với nhau. Con trâu xanh khỏe hơn cả cứ nhăm nhe đòi húc ba con kia khiến hai con sợ quá tản cả ra. Chỉ có con trâu chàm là hăng máu hơn sáp lại đấu sừng với trâu xanh. Hai con vừa chạy vừa húc nhau kịch liệt, cuối cùng cùng về đích một lúc. Khán giả ồ lên vỗ tay kịch liệt, la ó không ngớt.

            Sau đó là đến màn chia các đồ đã đặt cược. Người đánh chiêng khi nãy lấy đồ trong những vòng của con trâu thua cuộc trả cho những đồ trong vòng của hai con trâu thắng cuộc. Còn dư lại bao nhiêu thì thành tiền lời của mình.

            Mỵ Nương thắng cuộc, cái vòng ngọc của nàng được trả bằng cái dây chuyền nanh cọp của gã thanh niên nọ. Rồi nàng bỏ đi chỗ khác. Đến một bến sông lại có đám người đông lắm tụ họp, Mỵ Nương nhanh chóng sà vào chung vui. Trên sông có bốn năm con thuyền chia thành hai bên đậu đối diện nhau, một thuyền thì toàn nam thanh, một thuyền toàn nữ tú. Ra là trai làng bên kia sông đang thách hát với gái làng bên này. Trên hai bờ sông còn có nhiều người đứng cổ vũ, lại có cả đội đánh chiêng thổi khèn góp vui nữa.

            Chợt nghe thấy bên thuyền nam có giọng cao chót vót cất lên câu hát rằng:

Thương em anh cũng muốn thương

Nước thì muốn chảy nhưng mương chẳng đào

Em về lo liệu thế nào

Để cho nước chảy lọt vào trong mương

            Giọng ca vừa dứt đội văn nghệ bên đó khua chiêng om sòm cổ vũ, các anh chàng trên thuyền nhìn nhau cười hí hửng chờ cho thuyền nữ đáp lời.

            Phía thuyền nữ có giọng hát thanh thanh cất lên rằng:

Thuyền đà đến bến anh ơi

Sao anh chẳng bắc cầu noi lên bờ

Đang cơn nước đục lờ đờ

Đào mương đợi nước bao giờ cho trong?

Anh như con nước đôi dòng

Thôi em chẳng dám chung lòng cùng anh.

            Lần này đến lượt đội văn nghệ phe nữ tấu nhạc, các cô ai nấy cười khúc khích mặt tươi như hoa.

            Phía thuyền nam lại có giọng hát lên rằng:

Ngày ngày em đứng bên sông

Trông ngang trông ngửa qua sông bên này

Hỏi em thế có phải là

Trông anh sang đó để mà se duyên!?

            Câu hát vừa dứt cánh thuyền nam cười vang cả mặt sông, lẫn trong tiếng chiêng trống om sòm. Tưởng như thế là bắt bí được các nàng, chẳng dè lại có một cô giọng oanh vàng lên tiếng đáp:

Ngày ngày em đứng bên sông

Trông me đi chợ trông cha đi làm

Anh kia sao lại mơ màng

Phải chăng anh đứng bên đàng trông em?

            Trống chiêng lại một lần nữa vang dội mặt sông, lần này phía thuyền nam hát rằng:

Thấy em anh cũng mơ màng

Tưởng rằng đâu đấy phượng hoàng kết đôi

Thấy em chưa kịp ngỏ lời

Ai ngờ em đã vội rời gót loan.

Để anh mê mẩn canh tàn

Chiêm bao cứ tưởng có nàng ngồi bên.

Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên

Tương tư phát bệnh liên miên cả ngày.

Nghĩ rằng duyên nợ từ đây,

Xin nàng hãy lại chơi đây chút nào

Để ta tỏ thiệt thấp cao

Để trăng sao với mây trời kết đôi

            Dứt hồi nhạc, bên nữ đã có kẻ đáp rằng:

Em thấy anh em cũng muốn chào

Sợ lòng bác mẹ cây cao lá dài

Em thấy anh em cũng muốn thương

Sợ lòng bác mẹ soi gương không từng

Anh có thương thì đừng nói với em

Đi gặp bác mẹ hỏi xem thế nào.

            Cánh thuyền nam có vẻ đã hơi nóng ruột, có người hát rằng:

Đấy đông thì đây bên tây

Đây chưa có vợ đấy chưa có chồng

Con trai chưa vợ đã xong!

Con gái chưa chồng buồn lắm em ơi!

            Lần này thì các nàng đâm ra khó xử, chưa biết phải đối sao cho phải. Chợt nghe bên kia có trống đánh nhịp báo cho biết sắp hết thời gian, có lẽ các nàng đành phải chịu thua. Giữa lúc ấy bỗng nghe trên bờ có giọng con gái thánh thót cất lên:

Đấy đông thì đây bên tây

Đấy chưa có vợ kêu sang đây làm gì

Ba đồng một mớ đàn ông

Đây cho bên đấy chổng mông mà chờ!

            Dân tình nghe thấy đối đáp mạnh dạn như vậy thì phá lên cười vang, đội văn nghệ bên nữ tấu nhạc om sòm. Các cô trên thuyền nháo nhác nhìn nhau xem ai là người vừa hát đáp nhưng thảy đều lắc đầu cả. Ra là khi nãy Mỵ Nương đứng trên bờ thấy tình cảnh sắp thua cuộc của bên nữ nên bèn hát giúp. Hát xong nàng lẳng lặng bỏ đi ngay không nán lại, trong lòng cảm thấy rất vui vẻ.

            Đang đi trên đường bỗng Mỵ Nương lại nghe thấy phía trước ồn áo náo động, ngỡ lại có trò vui nàng chạy nhanh tới để xem. Nhưng sự tình không như nàng nghĩ, trên con đường cái có một cỗ xe lớn bốn con ngựa kéo đang lao đi vùn vụt bất chấp đường xá đông người và chật hẹp. Tiếng la ó là do bàn dân thiên hạ kinh hãi quá mà hò nhau tránh đường. Đã có mấy người do không né kịp mà bị ngựa tông cho văng vào lề. Chiếc xe băng qua chỗ nào là kéo theo sau một tràng dài những tiếng chửi rủa. Chẳng mấy chốc cỗ xe đã hiện ra ngay trước mặt Mỵ Nương, bốn con ngựa đôi mắt đỏ nhau, mồm miệng chảy đầy nước rãi, cứ cắm đầu chạy tới không thiết gì nữa, rõ ràng chúng đang lên cơn điên, trên xe cũng không hề có phu đánh ngựa. Phía bên trong xe lại thấy một người phụ nữ thò đầu ra ngoài la ó kêu cứu, nét mặt hoảng loạn vô cùng. Mỵ Nương gần như không toan tính gì nhẹ nhàng nép mình qua một bên, chờ cho khi lũ ngựa lướt qua nàng liền túm lấy càng xe tung mình nhảy lên lưng một con ngựa ở giữa, rồi lần lần ngồi xuống chỗ của phu lái ngựa, kéo cương toan ghì mấy con ngựa cho xe dừng lại.

            Đám đông bên đường hoan hô nàng nhiệt liệt.

            Thế nhưng lũ ngựa rõ là đã phát điên cả, kéo cương cỡ nào chúng cũng không màng tới, chỉ cắm đầu lao nhanh về trước, càng lúc tốc độ càng nhanh, càng lúc càng trở nên điên cuồng. Nỗ lực của Mỵ Nương dường như chỉ làm chúng thêm tức tối. Nàng trong lòng đã bắt đầu thấy hơi sợ hãi, thầm rủa cái chuyện xúi quẩy từ trên trời rơi xuống này. Nhưng ngoái đầu lại nàng thấy trong xe có người phụ nữ trong xe đang ôm xiết lấy đứa con, cả hai nét mặt kinh hoàng, nàng hạ quyết tâm phải cứu họ. Tình hình có vẻ không ổn, Mỵ Nương thấy cách một quãng không xa về phía trước có một khúc cua gắt, cứ đà này thì chắc chắn lũ ngựa không thể ôm cua được mà chỉ có nước lao thẳng xuống sông. Nàng lại cố ghì cương mạnh, vì nhất thời cũng chẳng biết phải làm gì khác hơn, nhưng vô ích, đương nhiên tốc độ chiếc xe không hề giảm lại. Nàng vén rèm nhìn vào trong xe, ánh mắt nàng đầy vẻ thương xót, hai mẹ con đang ôm ghì lấy nhau, nhìn nàng đầy vẻ van lơn.

            Đang lúc không biết xoay sở thế nào thì bỗng nhiên trên đường có một bóng người lao lên xe phụ nàng ghì cương. Nàng nhìn ra thì đó là một thanh niên vạm vỡ, khuân mặt khôi ngô, giọng nói vang rền: “Cô một bên, ta một bên, kéo lũ ngựa lại!”

            Những tưởng với sức hai người thì lũ ngựa sẽ phải chịu nghe lời, nhưng vẫn hoàn toàn vô hiệu, càng kéo mạnh chỉ càng làm bốn con ngựa thêm điên tiết mà mất phương hướng, lại càng lao nhanh hơn, cảnh vật bên đường lướt qua vùn vụt. Khúc cua phía trước hiện ra, mặt sông mênh mông nước đang đợi sẵn cỗ xe.

            Mỵ Nương hốt hoảng nói to để át tiếng gió: “Chúng ta làm thế nào đây, hai người trong xe sẽ chết mất.”

            Chàng trai đáp lớn: “Biết bơi không?”

            Nàng gật đầu

          Chàng ta lại nói: “Tôi bồng người phụ nữ, cô đứa nhỏ, khi xe tung lên trên không thì cùng nhảy xuống nước.”

Nàng lại gật đầu rồi hai người chui vào thùng xe bế hai mẹ con đang muôn phần sợ hãi kia ra, chực sẵn để chuẩn bị nhảy xuống nước.

            Khúc cua ấy đồng thời cũng là một con dốc nên tốc độ càng được gia tăng. Đúng như dự đoán, bốn con ngựa không hề cua theo con đường mà phi thẳng ra khỏi con dốc, lao xuống mặt sông. Chiếc xe theo đà phóng vút lên trên không rồi mới bắt đầu rơi xuống. Mỵ Nương và chàng trai kia bình tĩnh ôm hai mẹ con nọ nhảy thẳng xuống nước, tránh xảy ra va chạm với chiếc xe. Vụ tai nạn gây ra một tiếng ồn lớn và thu hút toàn bộ những người chung quanh đổ tới để xem, tạo thành một đám đông khổng lồ và ồn ào trên bờ.

            Mỵ Nương và chàng trai nhanh chóng đưa được hai nạn nhân nọ lên bờ, họ lập tức được đông đảo bà con săn sóc. Nhưng lúc ấy thì lớp hóa trang trên khuân mặt của Mỵ Nương bị nước cuốn đi sạch, trả về cho nàng vẻ đẹp rạng ngời thế gian hiếm thấy.

            Chàng trai khi lau nước trên mặt đi rồi thì ánh mắt bắt gặp dung nhan của cô gái trước mặt , dung nhan ấy khiến chàng ngây ngất, trong phút chốc như bất động. Mỵ Nương bị một chàng trai nhìn đắm đuối như thế thì cũng lấy làm e thẹn, hơn nữa trong lòng nàng lúc này cũng đã có mấy phần thương mến cái người vừa dũng cảm vừa tuấn tú ấy, cho nên tình ý dâng lên dạt dào trong mắt hai người.

            Chợt lại nghe đám đông xôn xao hốt hoảng, hai người liền đứng vội lên xem có chuyện gì. Lúc đó mới thấy dưới sông xuất hiện một con giao long khổng lồ màu đen kịt, mình dài tới mười mấy trượng cuộn mình giữa làn nước biếc. Con giao long ngoác cái mồm khổng lồ ra nuốt trọn cỗ xe cùng bốn con ngựa xấu số vào bụng rồi quẫy đuôi kịch liệt gây ra những đợt sóng lớn trên mặt sông, đồng thời cất tiếng gầm vang như hổ báo trên rừng. Dân chúng được một phen kinh hãi vội sụp cả xuống đất vái lạy liên hồi, mồm không ngừng cầu khẩn hà bá bớt giận. Chỉ có Mỵ Nương và chàng trai nọ vẫn đứng hiên ngang, ánh mắt tỏ vẻ vô cùng kì lạ. Một lúc lâu sau con giao long mới lặn xuống, trả lại sự bình yên cho mặt sông và để lại trong lòng dân chúng một nỗi hoang mang khôn cùng. Giao long xuất hiện với vẻ giận dữ như vậy là điềm báo cực không tốt trong quan niệm của mọi người, hơn nữa hôm ấy lại là ngày tế trời, cho nên hiện tượng này càng thêm phần nghiêm trọng. Hàng loạt bàn cúng lập tức hiện ra la liệt trên sông để dỗ dành hà bá. Hầu hết các hoạt động vui chơi trong vùng đều lần lượt giải tán, ai nấy lo sợ kéo nhau về nhà.

            Mỵ Nương cùng chàng trai mới quen rảo bước trên một con đê trò chuyện cùng nhau. Hai người tuy mới gặp nhưng cùng trải qua một phen sinh tử nên tự nhiên cũng cảm thấy rất thân thiết. Trời lúc này đã ngả về chiều, ánh tà dương lan dần trên cánh đồng đang độ vào xuân, gió mơn man nô đùa giữa không trung, phía xa mấy đàn chim đang nô nức đua nhau bay về tổ, cảnh chiều vừa bồng bềnh vừa thơ mộng.

            Mỵ nương hỏi: “Anh tên là gì, quê quán ở đâu, là người tộc nào?”

            Chàng trai đáp, giọng vừa trầm ấm mà vừa sang sảng: “Ta là Thục Phán, cha ta là Thục Chế, lạc tướng Hổ Tộc trú ở bộ Vũ Định. Còn nàng là ai?”

            Mỵ Nương ổ lên một tiếng nói: “Ra anh cũng có vai vế đến thế, tên ta là Mỵ Nương, nhà ta trong thành ấy. Nếu hôm nay không phải có anh dũng cảm nhảy lên xe cùng với ta thì không biết sự tình sẽ như thế nào!”

            Thục Phán nói: “Hiếm thấy cô gái nào vừa muôn phần xinh đẹp lại gan dạ tài giỏi như nàng, trong lòng Phán ta vô cùng ái mộ!”

            Lời khen làm đôi má thiếu nữ của Mỵ Nương ửng hồng, kèm theo một thoáng long lanh trong khóe mắt: “Anh quá lời rồi, gặp người hoạn nạn thì ra tay cứu giúp, đó là lẽ thường của người nước Văn Lang chúng ta, có gì đâu mà lại khen ngợi.”

            Hai người cùng im lặng rảo bước bên nhau một đoạn. Rám vàng trải trên mặt sông loang loáng như muôn nghìn ánh sao, những cơn gió hiu hiu kéo nhau thổi qua đồng lúa rì rào.

            Mỵ Nương nói: “Trước giờ ta chưa từng thấy giao long xuất hiện, không ngờ hôm nay nó lại nổi lên mặt sông nuốt lấy cỗ xe ngựa, anh thấy việc này nghĩa là sao?”

            Thục Phán nói: “Giao long được người dân coi là hà bá dưới sông. Ta thấy việc nó nổi lên mặt nước với dáng vẻ hung dữ như hôm nay là chuyện hoàn toàn bình thường thôi, chẳng qua vì mọi người đều cho nó là vật linh thiêng nên đem lòng kính sợ.”

            Mỵ Nương gật đầu nói: “Hi vọng không có chuyện gì xảy ra.”

            Thục Phán bỗng dừng bước quay sang nhìn nàng nói: “Ngày mốt là ta phải theo cha về lại tộc của mình ở mãi mạn Tân Hưng, có lẽ sẽ phải rất lâu nữa mới trở lại nơi đây!”

            Mỵ Nương như hiểu ý nói: “Anh phải về sớm thế sao, chúng ta chỉ còn lại ngày mai thôi ư!”

            Thúc Phán bèn đáp: “Giờ đã sắp tối trời rồi, ta ra ngoài cũng đã trọn một buổi phải quay về. Sáng mai ta có thể đợi nàng ở ngay nơi này chăng?”

            Mỵ Nương e thẹn gật đầu không nói. Rồi hai người trở bước ra về.

            Tin về giao long xuất hiện tức tốc bay về triều gây ra một sự hoang mang trong lòng quần thần. Hùng Vương liền triệu tập các lạc tướng cùng quần thần nghị sự.

            Đang lúc chuẩn bị bàn chuyện thì có vị lạc hầu chuyên lo chuyện văn thư đứng ra thưa rằng: “Thưa bệ hạ, nội trong ngày hôm qua thần đã nhận được rất nhiều tin báo từ các nơi, nội dung rất không hay.”

            Vua bèn nói: “Ngươi đọc to cho tất cả cùng nghe.”

            Vị quan ấy mở sớ đọc rằng: “Bộ Chu Diên có ngọn núi lớn cao ngàn trượng bỗng nhiên đổ sập không rõ nguyên nhân; bộ Phúc Lộc từ buổi trưa đến buổi xế chiều mặt trời hóa ra màu đỏ như máu khiến dân tình vô cùng khiếp hãi, mọi người xì xào bàn nhau đó là điềm tận thế; Ở bộ Cửu Chân có một đàn chim Lạc kéo nhau lao vào núi tự vẫn, có ông thầy bói mù nghe thế gieo quẻ nói rằng khí số nước Nam ngày càng yếu, khí số phương Bắc ngày càng thịnh, sẽ có ngày lấn át nước Nam, quan bồ chính đã cho bắt nhốt lão thầy bói ấy; ở bộ Vũ Định xảy ra động đất làm mặt đất nứt ra một khe rất sâu, ngày đêm có khói đen từ dưới khe ấy bay lên. Thưa bệ hạ, đó là những tin kì lạ thần nhận được ngày hôm qua.

            Nỗi hoang mang trong cả triều dâng lên theo mỗi tin tức, nên biết rằng tất cả những sự việc xảy ra trong sớ là những điềm rất xấu, lại đồng thời xảy ra, dù không muốn cũng phải tin rằng đó là dấu hiệu cho thấy xứ Văn Lang sắp bị tận diệt.

            Vua hỏi lo lắng nói: “Tất cả những điều ấy chúng ta phải lý giải thế nào với dân chúng, và bản thân chúng ta phải hiểu thế nào. Ngay trong bộ Văn Lang cũng có tin giao long xuất hiện nuốt trọn một cỗ xe với bốn con ngựa ngay trong ngày tế trời. Tin ấy giờ đã bay khắp nhân gian,  mọi người có ý kiến gì không?”

            Quan lang cúi đầu đáp: “Xin bệ hạ đừng quá lo lắng, mọi chuyện đều có nguồn cơn của nó. Đối với dân Văn Lang giao long là hung vật. Xưa kia khi tổ tiên chúng ta từ phương bắc vượt biển xuống phương nam định cư đều trông vào loài chim lạc chỉ đường. Loài chim ấy một năm vào độ mùa thu sẽ di cư xuống phương nam, tổ tiên ta theo dấu loài chim ấy nên tìm ra được đất này mà dựng cơ đồ. Cho nên nước Văn Lang coi chim Lạc là linh vật. Đất Văn Lang ngày trước rừng sâu núi thẳm, dân ta sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt nên thường xuyên bị nạn sông nước. Trong đó giao long là loài hung ác nhất, cướp đi mạng sống của biết bao nhiêu người. Dân ta vì sợ nên mới thờ nó làm hà bá, nhưng xem nó là hung vật đem lại điềm chết chóc. Từ hơn trăm năm nay chưa từng nghe giao long xuất hiện tác quái trên sông, nên chuyện xảy ra hôm nay quả là một điềm chẳng lành, báo trước nạn địch họa sắp giáng xuống nước ta. Mấy đêm nay thần nằm mộng đều thấy chòm bắc đẩu quay đầu cán chỉ về hướng nam, đấy là điềm báo giặc giã tràn đến từ phương bắc, không còn gì phải nghi ngờ nữa rồi. Tất cả những sự việc xảy ra ở các bộ như chúng ta vừa nghe chỉ mang một ý nghĩa duy nhất là sự cảnh báo cho chúng ta về nạn ngoại xâm, hoàn toàn không mang ý nghĩa là nước ta đã tận số. Vậy nên việc của chúng ta là phải chuẩn bị binh lực cho thật hoàn thiện để đối phó với giặc phương Bắc.”

            Chử Đồng Tử, phò mã và cũng là Tổng binh, bèn góp lời: “Thời gian gần đây tình hình phương bắc rất loạn, các nước chư hầu bên ấy chinh chiến liên miên, ai còn có tâm trí mà nhòm ngó xuống phương nam xa xôi chúng ta.”

            Tộc trưởng Dao tộc, là huynh đệ kết nghĩa với Chử Đồng Tử, nói: “Tình hình nội chiến ở các nước phương bắc theo tôi thấy đã dần đi đến hồi kết. Nước Tần binh lực rất mạnh, cách đây nửa năm đã hạ được nước Hàn, nước Triệu, và nước Sở, chỉ còn lại nước Tề và nước Yên. Cái thế thống nhất phương Bắc của Doanh Chính kể như chỉ còn trong nay mai. Kẻ này là người đại dũng đại trí, tham vọng sâu tựa biển, dã tâm lớn tựa non, chắc chắn sau khi thống nhất phương bắc sẽ dấy quân càn quét phương nam để thu giang sơn về một mối.”

            Quan lang thở dài nói: “Đó cũng chính là điều ta đang lo sợ. Phương bắc chia thành nhiều nước chư hầu kình địch nhau đã bao lâu nay, chẳng ngờ lại có ngày thống nhất thành một nước, như vậy thì sức mạnh to lớn vô cùng. Hôm nọ gieo quẻ trên đền thờ tổ cũng đã có điềm không hay. Thưa bệ hạ, chuyện chống giặc phải tính ngay từ hôm nay, nếu đợi đến khi chúng tràn đến biên giới mới lo thì chắc chắn sẽ không kịp.”

            Hùng Vương lo lắng hỏi: “Theo các vị, chúng ta còn bao nhiêu thời gian.”

            Quần thần trong điện nghe hỏi bàn luận xôn xao, cuối cùng Quan lang đáp: “Nước Tần muốn diệt nước Tề và nước Yên để thống nhất cõi Trung Hoa thì nhiều nhất cũng chỉ mất hai năm. Sau khi thống nhất rồi lo việc sửa sang nhà nước mất khoảng một năm, sau đó bọn chúng rất có thể sẽ dấy quân nam chinh. Để đánh xuống được nước Văn Lang chúng ta thì quân Tần trước tiên phải diệt nước Mân Việt và Nam Việt ở phía bắc, nhưng hai nước này yếu, chỉ một năm chắc chắn sẽ diệt xong. Vậy thưa bệ hạ, tính ra chúng ta có khoảng bốn năm để chuẩn bị. Thời hạn như vậy là gấp rút lắm rồi.”

            Hùng Vương nói: “Mọi người nghe cả rồi đấy. Các vị lạc tướng xin khoan hãy về tộc mình vội, lưu lại bộ Văn Lang ít ngày để ta cùng bàn kế sách chuẩn bị binh lực chống giặc. Buổi triều hôm nay chúng ta ngưng ở đây, tất cả ra về cùng suy tính, sáng mai họp lại ta bàn tiếp. Đây chính là lúc dầu sôi lửa bỏng, trên trời đã thương tình mà ban cho chúng ta những điềm báo để biết trước nạn địch họa, ta nên xem những điềm ấy là một ân huệ thay vì là điềm xấu. Quan lang hãy cho thảo một bản cáo để nói rõ điều ấy cho toàn dân, tránh sự xuyên tạc gây hoang mang. Tất cả những kẻ nào bị bắt gặp nói những lời xấu xa thì bắt giam hết lại.”

            Quan Lạng cúi đầu vâng lệnh. Tất cả bèn lục tục ra về.