Chương 8: Lễ tế bia

Like & Share:

Nước Văn Lang kể từ Lộc Tục lập quốc xưng là Kinh Dương Vương, truyền đến đời Hùng Huệ Vương là trọn mười tám đời, trải quãng thời gian hơn ngàn năm lịch sử. Các vua Hùng chăm lo việc nước, coi sóc việc dân, vì vậy Văn Lang về sau thành quốc gia trù phú bậc nhất trong số những nước nằm về phía nam Trung Hoa. Từ trang sách này xin kể chuyện về đời Hùng Vương thứ mười tám trở đi.

            Các vua Hùng làm vua nước Văn Lang, thống trị một cõi. Các bộ tộc Việt Thường sinh sống trong các vùng lân cận đều tôn lên làm thủ lĩnh, rồi kết hợp lại với nhau thành một liên minh gọi là Lạc Việt. Mục đích của liên minh là giúp đỡ nhau làm kinh tế, cứu vớt nhau lúc đói khổ, tương trợ nhau lúc loạn lạc. Từ lúc liên minh Lạc Việt ra đời, uy thế của nước văn Lang càng mạnh, xưng hùng suất một dải phía nam. Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, xây dựng cung to điện lớn để tỏ cái sự giàu có của đất nước. Lúc ấy quốc lực đang thịnh, trong triều vua tôi gộp cả lại có đến trăm người. Đứng đầu giới quan văn là Quan lang, đứng đầu giới quan võ thì có tướng Chử Đồng Tử, vốn là con rể nhà vua, nay giữ chức Tổng Binh. Tiếp dưới là các quan Lạc Hầu coi sóc các việc của đất nước.

            Chử Đồng Tử vốn xuất thân dân dã, do được công chúa Tiên Dung yêu mến mà tự ý kết nghĩa vợ chồng. Ban đầu vua giận lắm, không thuận cuộc hôn nhân này nên đuổi ráo cả hai người đi, bảo với Chử Đồng Tử thế này: “Con ta là công chúa danh giá, còn ngươi là kẻ quê mùa đói khổ, vậy sao xứng đôi cho được. Nhưng ta vì thương yêu con ta, hơn nữa lại không nỡ hại kẻ thường dân, vậy hạn cho ngươi trong mười năm, nếu có lập nên công trạng kì tích gì hiển hách thì ta mới thuận cho làm rể ta, bằng không thì ta sẽ giết đi cho bằng được.”

            Vậy Chử Đồng Tử dẫn vợ tha phương đến một vùng đất nọ. Ở đó hai vợ chồng chăm lo làm ăn. Chồng thì có tài tháo vát, lại thông minh tuyệt đỉnh, vợ thì là người siêng năng xinh đẹp, thế nên chẳng bao lâu đã dựng được cơ ngơi rất lớn. Hai người thường hay rộng tay giúp đỡ những kẻ khốn khó, tha phương lưu lạc, quy tụ họ lại sống thành một ấp gọi tên là ấp Hà Thám, rồi Chử Đồng Tử tự mình đứng ra lãnh đạo cái ấp đó. Thế rồi hai vợ chồng biên thư về cho vua nói rằng: “Con là kẻ hèn mọn xin được lạy dưới chân vua. Từ ngày chúng con ra đi chẳng dám quên lời dạy, ngày đêm lo khai khẩn làm ăn, đến nay đã lập được một cái ấp nhỏ ước chừng hơn ngàn hộ. Vậy con xin dâng ấp cho vua để tỏ lòng hiếu thuận, xin vua chấp nhận đứa con rể này. Được vậy thì phúc cho con lắm.”

            Vua đọc thư xong thì hỏi ý kiến Quan lang. Quan lang vốn cũng muốn thử tài Chử Đồng Tử bèn nói: “Đồng Tử tuy lập được ấp to nhưng như thế cũng chưa kể là giỏi. Nay ở mé tây bắc nước ta, giáp với bộ Lục Hải có nước Nam Việt, tuy cùng nói giống Việt như ta nhưng vua nước ấy lại không chịu phục bệ hạ, cứ đi cúi đầu chịu nhục xưng thần với các chư hầu phương Bắc. Nằm về phía nam nước này có một bộ tộc nhỏ. Tuy nhỏ nhưng lại ở vị trí hiểm yếu. Bộ tộc ấy chưa thuận theo nước nào cả. Vậy ta sai Chử Đồng Tử đi thu phục nó về. Nếu được việc thì bệ hạ hãy nhận làm con rể, nếu hỏng việc thì để xét sau.”

Hùng Vương thuận ý truyền chỉ cho Chử Đồng Tử lo liệu việc ấy.

Chử Đồng Tử nhận được lệnh vua hỏi vợ rằng: “Bộ tộc vua cha muốn ta thu dụng nằm ở miền biên cương xa xôi, nàng có ý gì hay chăng?”

Tiên Dung nghe chồng hỏi, biết chồng có ý trách cha mình vì bắt đi đánh trận mà lại không phát cho một binh một tướng nào. Nàng ngẫm nghĩ rồi đáp: “Em từ lúc theo chàng tới giờ dù khổ cực mấy cũng chẳng một lời oán thán, vì tin rằng em không chọn lầm người. Nay cha sai việc đó là cơ hội tốt để chàng tỏ rõ tài mình, vậy cớ gì mà lại không vui. Dân ấp ta được vạn người, chàng cứ kén lấy vài ngàn trai tráng mà liệu sự. Còn việc ở nhà cứ để cả vào tay em. Em có được nhận lại cha mẹ mình không đều trông cả vào phen này.”

Chử Đồng Tử thương vợ đáp: “Ta sẽ vì nàng mà cố hết sức mình.”

Hôm sau họp cả ấp lại thì kén được ba ngàn trai tráng, ai cũng một lòng đi theo trưởng ấp lập công. Chử Đồng Tử bỏ ra ba tháng để dạy quân, lại cho đóng một trăm cỗ xe, tậu hai trăm con ngựa kéo, rồi một buổi sáng trời trong lại cho họp toàn dân trong ấp để làm lễ chia tay. Quân sĩ ai nấy đều bịn rịn gia đình. Đường về phương Bắc xa xôi hiểm trở, chẳng biết ngày về nên cánh phụ nữ khóc mãi không thôi.

            Tiên Dung may cho chồng một cái khăn tay, nước mắt lã chã nói: “Mình đi rồi về sớm!”

Hai vợ chồng trước giờ sướng khổ kiểu gì cũng sát bên nhau, nay mỗi người mỗi ngả khó tránh luyến lưu.

            Chia tay hẹn hò xong xuôi, Chử Đồng Tử nhắm hướng đông bắc kéo quân đi, cứ luân phiên nhau ba người ngồi một xe hai ngựa kéo, số còn lại đi bộ. Các địa phương trên đường đã được vua báo trước nên quân đi đến đâu đều được tiếp đãi tử tế, Chử Đồng Tử lấy thế làm vui lòng.

            Một ngày nọ đi ngang qua một dãy núi hiểm trở, rừng rậm hoang vu, sơn lam chướng khí bay mịt mù. Lúc ấy trời đã ngả trưa, thấy tiết trời oi bức Chử Đồng Tử lệnh cho quân hạ trại bên một khe nước kề bên một miệng vực nghỉ ngơi ăn uống. Đang lúc đó bỗng trên trời có tiếng một loài chim kêu lớn, Chử Đồng Tử ngước mắt nhìn lên thì nhận ra đó là một con chim Lạc màu lông óng ánh dưới nắng trưa. Chàng lấy làm lạ vì loài chim này vốn thường sống gần biển, sao lại xuất hiện giữa chốn núi non này. Con chim đảo mấy vòng trên không như muốn thu hút sự chú ý từ bên dưới, rồi cất cánh bay chếch về tây một cách chậm rãi. Chử Đồng Tử thấy sự lạ, trong lòng trào dâng nỗi tò mò bèn dặn quân linh cứ nghỉ ngơi, còn mình thì xách gươm đi theo con chim.

            Băng qua mấy quả núi chàng thấy con chim Lạc đậu lại trên một tán cây rồi cứ đứng ở đó. Chàng rảo mắt nhìn quanh thấy một lối bậc thang xếp bằng đá uốn lên một ngọn núi, leo đến cuối lối đi đó thì hiện ra trước mắt một tòa sơn trang bằng gỗ đơn sơ mà tao nhã nằm ngay giữa đỉnh núi, bốn bề trống trải. Trên nóc ngôi nhà có một lá cờ nhỏ màu đỏ đang bay phất phới. Nhìn lá cờ chàng cảm thấy có cái gì đó rất lạ nhưng nhất thời không biết lạ ở chỗ nào. Bên hiên ngôi nhà có một người đang đứng, quay lưng về phía Chử Đồng Tử, mắt nhìn về phía một ngọn núi xa. Thấy đó là một ông già, chàng lên tiếng gọi: “Chẳng hay ông là ai, sao lại sống cô độc giữa nơi rừng núi hiểm trở này”.

Người kia không quay lại, đáp: “Ta ở đây chờ phò mã cũng đã lâu, xin mời lên đây cùng nói chuyện.”

            Chử Đồng Tử rất lấy làm lạ vì người kia biết thân phận của mình, nhưng chàng cũng chẳng ngại bèn men theo một cầu thang leo lên hiên nhà, nơi ấy đã dọn sẵn một bàn trà. Ông già kia vừa rót trà vừa mời chàng ngồi xuống. Lúc này nhìn rõ Chử Đồng Tử mới thấy đó là một ông lão đã rất già, râu tóc bạc phơ, mặc một bộ áo làm bằng vải gai thô kệch, xám xịt, duy chỉ có nước da là vẫn hồng hào, đôi mắt sáng quắc và khuân mặt có một sức thu hút khó tả, nhìn vào đó chàng bỗng sinh lòng kính trọng. Ông già ấy nở một nụ cười nói: “Từ đây lên tới biên giới Nam Việt còn khoảng mười ngày đường nữa. Chuyến đi này của phò mã chắc sẽ thành công.”

            Chử Đồng Tử nghe thế càng lấy làm lạ không hiểu sao lão kia còn biết cả mình đang làm gì. Chàng bèn hỏi: “Xin hỏi ông là ai?”

            Lão cười không đáp, đưa chén trà nói: “Mời phò mã.”

            Chử Đồng Tử đón lấy nhưng không uống, đặt lại xuống bàn, nhìn đối phương một cách dò xét. Ngôi nhà nằm trên đỉnh núi cao, bốn bề gió cuồn cuộn thổi, cuốn chòm râu dài của lão bay sang một bên. Ông lão không nhìn lại chàng nhưng nhìn ra ngoài hiên, phía trước là núi non chập trùng, cảnh vật hùng vĩ.

            “Ta chỉ là một ông già sống một mình nơi đây, không tên không tuổi.” Lão nói. “Nay vì biết phò mã đi ngang nên muốn mời lại uống chèn trà đàm đạo.”

            Chử Đồng Tử nói: “Tại sao ông biết ta là phò mã, tại sao biết ta đi ngang, và hơn nữa, tại sao biết ta đang đi về hướng biên giới.”

            Ông lão nở một nụ cười nói: “Mọi chuyện trên đời có nhân có quả, có khởi có tàn, nắm được nguyên lý ấy thì trước sẽ thấu tương lai, sau thông quá khứ, nắm rõ hiện tại, quán triệt sự đời. Lão trọn đời ở đây chỉ để nghiên cứu cái nguyên lý ấy của vũ trụ, cũng coi là có chút thành tựu. Đêm qua ta xem sao trời, thấy chòm Thợ Săn tỏa sáng lấp lánh, quầng tinh ở ba ngôi sao thắt lưng tỏa ra mãnh liệt, đấy chính là dấu hiệu của quý nhân xuất hiện. Ta lại thấy những ngôi sao ở chòm bắc đẩu sà xuống phương nam, lại thấy chòm Thần Nông tỏa ánh hào quang rực rỡ, vậy là đủ biết quý nhân ấy đến từ phương nam, từ dòng dõi vua chúa.”

            Chử Đông Tử nói: “Lão nói luyên thuyên gì vậy, đêm qua ta cũng ngắm sao trời, nào thấy có những điều như lão vừa tả.”

            Ông già bật cười sang sảng nói: “Nếu thiên cơ mà ai cũng có thể thấy được thì có còn là thiên cơ không. Quan sát thiên tượng không phải chỉ dùng tới mắt thường, nhưng cái cốt yếu là phải dùng đến thần. Chính cái thần mở ra những thứ vốn bị che dấu trước mắt phàm. Còn để dùng được cái thần thì lại là một chuyện khác mà sau này chắc chắn sẽ có lúc ta bàn kĩ hơn về điều ấy.”

            Nói tới đó thì con chim Lạc khi nãy bay tới đáp xuống lan can của hiên nhà, lấy mỏ rỉa lông một cách thoải mái.

            “Là chim của lão ư?” Chử Đồng Tử hỏi. “Sao lão có thể nuôi được.”

            Lão lại cười nói: “Như ta đã nói, trên đời này không gì là không thể, chỉ cần ta tìm được đúng cách.”

            “Vậy lão dẫn ta tới đây làm gì?”

            “Ta muốn trao cho phò mã một thứ.” Ông già nói, và chẳng chờ Chử Đồng Tử hỏi đã đưa luôn thứ ấy cho chàng. Đó là một cái túi nhỏ bằng vải buộc kín đầu. Chử Đồng Tử toan mở ra xem thì lão ngăn lại nói: “Ta muốn phò mã hứa với ta một điều, đó là mười năm sau, khi nào phò mã nghe thấy tiếng con chim Lạc này kêu lên ba hồi thì mới được mở ra, đến lúc đó phò mã tự khắc sẽ biết ta đưa để làm gì. Phò mã có làm được không.”

            Nhìn cái túi nằm trên bàn Chử Đồng Tử cảm thấy băn khoăn và tò mò, nhưng theo như yêu cầu của lão già thì chàng không được phép mở ngay nếu nhận túi. Mà chàng lại là bậc trai tráng, chẳng lẽ nuốt lời. Sau một hồi đắn đo chàng cầm lấy túi gật đầu nói: “Được! Ta nhận lời.”

            Lão già bật cười: “Tốt, có chí khí. Giữ bí mật đôi khi còn khó hơn là đánh bại một đạo quân. Phò mã có thể đi được rồi, không còn sớm nữa.”

            Chử Đồng Tử nhìn ra xa, thấy mặt trời đã xuống thấp mới sực nhớ là mình đi đã lâu, bèn cáo từ lão già rồi đứng dậy ra về. Vừa ngoảnh đi lão lại gọi: “Xin dừng bước, lão còn cái này muốn tặng phò mã.”

            Chử Đồng Tử đưa tay nhận lấy, đó là một ống sáo nhỏ bằng tre. Lão già bèn lưu ý cách sử dụng: “Một ngày nào đó phò mã quay lại nơi đây, chỉ cần thổi ống sáo này thì sẽ gặp được lão.”

            Chử Đồng Tử cầm cây sáo quan sát một lúc rồi nói: “Ta sẽ giữ kỹ vật này. Nhưng có dùng nó như lời ông nói hay không thì ngày sau hẵng hay. Đã trễ rồi ta phải đi.”

            Ông già tiễn chàng xuống tới dưới sân, bỗng chỉ tay lên lá cờ cắm trên nóc nhà nói: “Cả tháng nay gió từ phương bắc thổi xuống rất mạnh, theo lý mà nói thì đuôi của lá cờ phải chỉ về phương nam, nhưng đằng này nó cứ một mực quay về phương bắc, ngài có thấy lạ lắm không.”

            Lão già nói xong mới làm Chử Đồng Tử nhận ra, ngay từ lúc tới chàng đã thấy lá cờ có điều bất ổn, ra là như vậy. Rõ ràng gió đang thổi về phía nam mà đuôi lá cờ lại quay về hướng bắc. Chàng bèn hỏi: “Thế nghĩa là sao?”

            Lão già mỉm cười nói: “Nếu ta tính không nhầm thì trong vòng mười năm nữa giặc phương bắc sẽ tràn xuống phía nam gây ra một trận binh lửa khốc liệt. Vận mạng nước nam có giữ được hay không chính là ở cuộc chiến này. Thôi phò mã hãy đi đi.”

            Chử Đồng Tử thấy khó hiểu nhưng cũng không hỏi gì thêm, vì sợ hỏi nữa thì lằng nhằng mất thời gian bèn nhét sáo vào người rồi xuống núi gặp lại binh lính. Cả đoàn lại nhổ trại thẳng tiến.

            Hơn mười ngày sau thì quân tới được biên giới phía đông bắc, thuộc bộ Lục Hải, trước mắt thấy đồi núi chập trùng, rừng xanh thăm thẳm. Chử Đồng Tử một mặt cho người đi tiên phong dò xét đường xá địa hình thế nào, mặt khác lại cho gọi quan chính địa phương tới hỏi chuyện phong vật đồi núi.

            Vị quan bồ chính đó trải ra bàn một tấm bản đồ rồi chỉ trỏ vào đấy nói: “Từ đây đi tiếp khoảng một ngày đường là tới lãnh thổ của Dao tộc, nơi đó nằm lọt thỏm trong một thung lũng khá bằng phẳng, án ngữ ngay chính giữa con đường độc đạo dẫn qua biên giới. Tộc chủ của họ tên là Du Giang. Tôi nhiều lần nhận lệnh vua sang đó thuyết cho hắn về hàng nước Văn Lang ta, nhưng hắn còn dùng dằng chưa quyết vì phía bên kia biên giới còn có nước Nam Việt cũng đang níu kéo. Nay tướng quân dẫn binh tới đây thì hoặc là thôn tính luôn bộ tộc ấy đi, hoặc là phải chiêu mộ cho được, bằng không chúng tất theo về Nam Việt, khi đó rất bất lợi cho nước ta.”

            Chử Đồng Tử nhìn ngắm bản đồ hồi lâu rồi hỏi: “Bộ tộc ấy mạnh yếu thế nào?”

            Quan bồ chính thưa: “Dân được khoảng mười mươi vạn, quân chưa tới một vạn, sống chủ yếu bằng săn bắn và trồng cấy theo vụ mùa. Có hai thành lớn. Một nằm về phía bắc thông sang Nam Việt, một về phía Nam thông với Văn Lang ta, còn hai bên đông tây là đồi núi hiểm trở, không cần dựng thành.”

            Chử Đồng Tử hỏi tiếp: “Sao Nam Việt còn chưa hạ cái bộ tộc này đi?”

            Quan lại đáp: “Không dễ. Phía bắc nước Nam Việt còn có nước Mân Việt lúc nào cũng nhăm nhe xâm lấn. Vả lại Dao tộc nằm giữa nước ta với Nam Việt. Nếu Nam Việt đem quân chiếm tất tộc chủ sẽ cầu cứu Văn Lang ta, còn Văn Lang xua quân tới thì họ lại cầu cứu Nam Việt, thành ra chưa ai dám đánh cái tộc ấy cả.”

            Chử Đồng Tử nói: “Tên tộc chủ bên đó là người thế nào ngài biết chăng?”

            Quan bàn rằng: “Tộc chủ bên đó mới nắm quyền được chừng ba năm nay, còn trẻ lắm, là kẻ có khí độ, trọng sĩ diện, ấy thế cho nên mới không chịu thần phục nước nào cả. Hắn có sở thích săn bắn. Gần ranh giới giữa tộc người ấy với nước ta có khu rừng lắm thú nhiều chim, hắn thường tới đó săn lắm, có khi một tháng tới hai lần.”

            Chử Đồng Tử ngẫm nghĩ rồi nói: “Ta đã có cách chiêu hàng hắn rồi.” Rồi gọi tả hữu tới dặn dò tỉ mỉ, ai nấy lĩnh kế ra đi.

            Quan thấy lạ hỏi: “Chẳng hay tướng quân liệu việc thế nào?”

            Chử Đồng Tử lại nói nhỏ vào tai quan: “Phiền ngài chuẩn bị cho tôi thật nhiều thú rừng, rồi cứ làm thế này… thế này…” quan nghe cứ gật đầu lia lịa rồi tức khắc đi sắp đặt.

            Hôm ấy tộc chủ Dao tộc theo thói quen lại vào rừng đi săn, phải ngày thú rừng không biết ở đâu đổ ra nhiều vô kể nên thích lắm, cứ mải miết đuổi theo mãi, đến nỗi lạc cả đám quân cận vệ theo hầu, một mình vô tít núi sâu. Trời sầm tối bỗng đâu có một toán người độ trăm tên từ trong núi hùng hổ xông ra chặn lại, tên cầm đầu quát: “Bớ tên kia, cây cối rừng này ta trồng, chim thú ta nuôi, sao lại dám vào đây săn trộm.”

            Dao chủ nhận ra là một đám lâm tặc cướp đường, theo thói quen bèn gằn giọng nói: “Bọn ngươi là một lũ cướp rừng cướp núi mà lại dám lớn lối thế sao?” Nói xong mới nhận ra mình cô thế, chung quanh chẳng có ai, lòng đã hơi run, nhưng vẻ mặt vẫn không biến sắc.

            Tên cầm đầu thấy Dao chủ cưỡi ngựa trắng đóng yên cương bằng vàng, mình khoác áo sáng loáng, vẻ mặt tươi tốt thì biết là quý nhân, bèn cười nói: “Ta trông ngươi không phải người thường, thôi thì cứ bắt sống để đòi tiền chuộc vậy.” Nói rồi quát đàn em xông lên động thủ. Dao chủ tức thì bị vây chặt vào giữa, không còn động cựa gì được nữa.

            Bỗng lúc ấy có tiếng hô lớn vọng đến, rồi thấy một toán chừng mười kị mã từ đâu xông tới, người đi đầu tướng tá oai phong lẫm liệt, chính là Chử Đồng Tử, chàng quát: “Bớ bọn cướp đường, lại dám hoành hành trên đất Văn Lang ta sao?” Nói rồi xông đến chém giết. Đám lâm tặc thấy quan quân hùng hổ như vậy thì kinh hãi bỏ chạy tán loạn.

            Dao chủ nhờ vậy mà thoát nạn, lấy làm biết ơn Chử Đồng Tử, bèn nói: “Ta nay được tướng quân cứu mạng, ơn ấy xin ghi lòng, chẳng hay ngài xưng hô thế nào?”

            Chử Đồng Tử vội vàng xuống ngựa, cúi người đáp lễ nói: “Tôi là phò mã nước Văn Lang, đang trên đường đến Dao tộc tìm gặp tộc chủ.”

            Tộc chủ nghe vậy mừng rỡ, bèn dẫn Chử Đồng Tử về thẳng cung điện của mình mà tiếp đãi rất nồng hậu. Đôi bên cùng trang lứa chuyện trò tâm đầu ý hợp vô cùng.

            Sau khi đã chén tạc chén thù rồi Chử Đồng Tử mới nói: “Tôi vâng mệnh vua đến để bắc cầu giao hảo với tộc chủ. Nhưng nay thấy tộc chủ một thân anh hùng như vậy, dễ có thể tự mình đứng trong trời đất, cho nên cái ý hòa hảo thôi cũng xin chẳng nói tới làm gì nữa. Được quen biết một bậc anh hùng như tộc chủ đây, chuyến đi này rất đáng.”

            Tộc chủ nốc chén rượu rồi đứng lên nói: “Xin phò mã chớ nói vậy. Ta trước nay luôn kính Hùng Vương là bậc minh chúa phương nam, vẫn có ý muốn về hàng phục, ngặt vì kẹt nước Nam Việt chắn đường. Nhưng nay ta được phò mã cứu mạng, ơn đó biết để đâu cho hết, vậy ta trước xin được kết làm huynh đệ với phò mã, sau xin Hùng Vương cho gia nhập vào liên minh Lạc Việt, được vậy thì còn gì phúc bằng.”

            Chử Đồng Tử đứng bật dậy nói: “Tộc chủ quả là bậc đại lượng biết nhìn xa trông rộng, người như vậy ở đời thật hiếm gặp.”

            Thế rồi hai người kết làm anh em, Chử Đồng Tử gọi Dao chủ là anh, xưng em.

            Chuyện xong xuôi đâu đấy, Chử Đồng Tử kéo quân về. Trước khi đi vị quan địa phương có tiễn mười dặm đường. Quan nói: “Cái kế thả thú dụ người, rồi lại phá cướp cứu người của tướng quân thật là diệu, không mất chút công sức nào mà đã thu phục được Dao tộc, công này lớn biết bao.”

            Chử Đồng Tử cười nói: “Dao chủ là người khí khái, nếu chẳng vậy thì kế này không dùng được.”

            Tin ấy bay nhanh về triều, Hùng Vương vui lắm bèn bảo Quan lang rằng: “Xem ra thằng con rể này cũng là đứa giỏi, xứng với con gái ta.”

            Quan lang đáp: “Nay nhân dịp này ta đưa vợ chồng họ về cung, rồi phong cho Chử Đồng Tử làm Lạc Hầu để hết lòng phò tá bệ hạ.”

            Vua thuận ý. Vậy từ đó Chử Đồng Tử lên làm Tổng Binh, đứng đầu trong hàng quan võ.

            Nước Văn Lang cứ mỗi độ xuân về lại làm một cái lễ lớn tế trời, thường họp mặt đủ các bộ tộc trong liên minh tới đàm đạo, gọi là lễ Tế Bia. Năm nay vụ lúa đông xuân được mùa, dân tình no đủ nên vua muốn làm lễ thật to, bèn khiến các quan chuẩn bị cho chu đáo.

            Đúng ngày năm tháng năm âm lịch, Hùng Vương ngự giá ra núi Lang Thiên, nơi dựng đền thờ Bia Trời để dự lễ, văn có Quan lang dẫn đầu, võ có Tổng Binh dẫn đầu, tất cả gần trăm mạng đi theo vua. Phía sau còn kéo theo một đoàn quân hộ giá đông đến mấy nghìn người, cờ quạt chiêng trống đánh ầm trời.

            Đỉnh Lang Thiên là một ngọn núi cao nằm cách cung điện chừng mười dặm về hướng đông, từ đời Kinh Dương Vương đã được xem là ngọn núi thiêng, có lễ bái gì to tát đều tổ chức cả ở đây. Đến đời Hùng Vương thứ sáu thì Văn Lang được thần từ trời xuống đánh giặc giúp rồi ban cho Bia Trời, vậy đền thờ bia cũng được dựng luôn trên núi này. Từ đó đỉnh Lang Thiên càng thêm linh thiêng. Đền thờ Bia Trời có sân rộng chứa được cả vạn người, nhân ngày lễ được trang hoàng vô cùng lộng lẫy, cờ xí bay rợp đỉnh núi. Dân chúng tứ phương cũng nô nức về dự lễ, dòng người chen chúc nhau quây chặt xung quanh núi, không khí hết sức náo nhiệt.

            Khi vua đến tiếng hoan hô trong dân dồn dập vang lên không ngớt, ai nhìn thấy vua cũng rớt nước mắt cảm động. Tất cả lạc tướng, tức là những người đứng đầu các bộ tộc, đã họp mặt đầy đủ trên sân đền thờ, còn có cả Dao chủ bất chấp đường xá xa xôi cũng về dự, cả thảy mười lăm người. Khi Hùng Vương xuất hiện bọn họ đều lục tục đứng dậy hành lễ, Hùng Vương cũng cung kính chào lại. Các bên trao đổi dăm ba câu chuyện rồi cùng bắt đầu dâng lễ.

            Bia Trời được đặt trên một cái đài rất cao bằng đá, uy nghi sừng sững giữa núi non. Dưới đài có một cái án thờ trưng các đồ lễ vật. Sau cái án còn có một đống củi lớn đã chất sẵn. Quan lang chủ trì buổi lễ bước đến bên án, nơi đó có buộc sẵn một con trâu béo mập, lại có một thúng gạo nếp. Ông đọc bài tế rằng:

            Hùng Vương ta chịu mệnh trời coi xứ Văn Lang, tài thấp đức mỏng, công cán chẳng bao

            Nhưng ngoảnh trông về các đời cha anh dựng nước, bao thuở anh hùng , nên cũng dặn lòng dốc toàn sức mọn.

            Nước Văn Lang năm nay chịu ơn mưa móc, hưởng cảnh thái bình, dân tình no đủ.

            Lại được mùa đông xuân, lúa trổ đầy đồng, trâu dê đầy bãi

            Nước sông Hồng không lũ không lụt

            Nước sông Mã chẳng hạn chẳng khô

            Ta lại nghe tâu:

            Bộ Vũ Định làng không bóng cướp

            Bộ Chu Diên chẳng kẻ ăn xin

            Bộ Lục Hải lao tù để trống

            Bộ Phúc Lộc, Bồ Chính thảnh thơi

            Chẳng như Phương Bắc binh lửa triền miên

            Dân phương Nam chẳng nghe từ giặc giã

            Ấy thật là:

            Trên thuận ý Trời người người no ấm

            Dưới được lòng dân non nước vững bền

            Nay mượn máu trâu gạo nếp

            Là sản vật nuôi sống dân ta

            Mà tế Trời cao tạ ơn dâu bể

            Bố cáo! Bố cáo!

            Quan lang dứt lời tiếng tung hô vang dội núi rừng. Rồi có quân lính đẩy ra giữa sân đình ba cái cái trống đồng lớn bóng loáng, ánh mặt trời rọi vào rực rỡ vô ngần, lại có ba lực sĩ cầm dùi đồng đi kèm. Vị lực sĩ ở giữa dấy lên một hồi trống dài, âm thanh lan tỏa trời đất, nghe qua mà tim đập bồi hồi. Hai lực sĩ hai bên ứng tiếng đánh trống dồn dập, âm điệu mãnh liệt hùng tráng. Tiếp đến là đội Tù Và dàn hàng chung quanh sân, chia làm ba tốp lần lượt thổi vang, tốp này dứt lại đến tốp kia, khiến cho âm thanh triền miên không ngớt, hòa lẫn với tiếng trống bay khắp đất trời.

            Vua bước đến bàn thờ, đầu đội mũ lông chim lạc, người mặc áo khoác da hổ, lưng đóng khố da báo, ngực đeo vuốt chim ưng, thần thế uy phong lẫm liệt, rảo mắt nhìn toàn trường. Một hồi tù và trỗi lên từ góc sân. Tiếp đến vua tự tay chọc tiết con trâu, máu tuân ra lai láng chảy vào một cái thau đồng hứng sẵn từ trước. Có ai đó đốt đống lửa đằng sau bàn thờ, lửa bốc cao ngùn ngụt. Hùng Vương chuốc ráo cả chậu máu trâu lẫn thúng gạo nếp vào lửa để tế Bia Trời. Bên dưới tiếng hoan hô lại ầm ĩ vang lên, lẫn vào tiếng trống đồng giục giã và tiếng tù và âm vang.

            Nghi lễ tế trời kết thúc, dân chúng tản ra đi chơi hội. Đây là dịp lễ lớn nhất trong năm, cuộc vui kéo dài tới cả tuần mới dứt, cũng là dịp để dân tình thỏa chí ăn chơi của mình. Họ bày ra nhiều trò giải trí khắp nơi, đường phố đâu đâu cũng nhộn nhịp chân người, chợ họp suất ngày không dứt.

            Sau khi các nghi thức trước toàn dân kết thúc thì giữa những lạc tướng với nhau còn có một số nghi thức nhỏ khác. Bọn họ theo chân Hùng Vương đi vào thái miếu là nơi thờ các đời Hùng Vương, đặt ngay phía sau Bia Trời, để dâng lễ vật cho tổ tiên. Sau đó họ ngồi lại với nhau bàn chuyện chính sự.

            Hùng Vương nói: “Thật không mấy khi hội đủ các vị lạc tướng ở đây, lòng ta vui lắm. Giữa các quý vị chẳng hay có điều gì cần nói, xin chớ câu lệ.”

            Bấy giờ có lạc tướng Hổ tộc trú ở mạn bắc bộ Tân Hưng, tên là Thục Chế, nói rằng: “Nước Nam Việt từ khi hay tin Dao tộc về với chúng ta thường hay đem quân quấy nhiễu biên giới, ta xét việc này cần phải biên thư răn bọn họ.”

            Lạc tướng Dao tộc, là anh kết nghĩa của phò mã Chử Đồng Tử, tiếp lời: “Vua Nam Việt là kẻ hung hăng nhưng tuổi đã già, sống chết nay mai. Hắn chỉ có một mụn con nhưng lại là đứa ngu xuẩn. Chờ khi hắn chết rồi con hắn lên thay, chúng ta có thể đem quân tới mà chiếm nước ấy đi. Lấy được Nam Việt thì tất nước Mân Việt liền kề cũng phải quy hàng ta thôi. Đến lúc ấy Lạc Việt ta vững mạnh, không còn phải sợ phương Bắc xâm chiếm nữa.”

            Hùng Vương gật đầu khen phải rồi truyền Quan lang nói: “Xin ngài gieo hộ một quẻ xem việc ấy có thành không?”

            Quan lang dùng mười hai sợi lông chim Lạc có màu sắc và kích thước khác nhau gieo quẻ lên bàn trước sự quan sát của mọi người. Quẻ thành rồi ông nói: “Chiếc lông màu đỏ lớn nhất nằm gác trên mười một chiếc lông còn lại, đây là điềm báo các nước chư hầu phương bắc nay mai sẽ bị một nước mạnh hơn thâu tóm và thống nhất thành một nước lớn, hùng mạnh vô cùng. Đuôi chiếc lông ấy lại chĩa về phương nam, ý nói nước ấy sau khi thành rồi sẽ chinh phạt phương nam ta. Quẻ này cực xấu. Bệ hạ và các vị lạc tướng nên sớm lo lắng việc quân từ bây giờ, trong ba năm tất có họa binh đao.”

            Quẻ bói của Quan lang khiến ai nấy lo lắng trong lòng, bao nhiêu việc nhỏ việc to khác cũng chẳng bàn tới nữa, bèn bái biệt nhau ra về cả, hẹn nếu có bất cứ tin tức gì về phương bắc phải cấp báo cho nhau ngay lập tức.