Chương 7: Quan Lang

Like & Share:

Tinh mơ sáng hôm sau, khi trăng vừa lặn xuống đồi và mặt trời mới nhô lên đầu núi, trong bản gà đua nhau gáy, thì cả nhà Ả Đặng đã thức giấc. Chúng tôi xuống chào buổi sáng Già làng rồi trở lên nhà ăn sáng với Tộc trưởng. Cơm nước xong xuôi cũng là lúc khởi hành đến nơi cư trú của vị Quan lang huyền bí kia.

          Tộc trưởng đi trước dẫn chúng tôi cùng Ả Đặng băng qua bãi đất mới vui hội đêm qua rồi xuôi theo một con đường mòn xuống một thung lũng khá sâu, cây cối hai bên um tùm rợp bóng. Thỉnh thoảng lại có mấy con suối nhỏ trong vắt chảy róc rách ngang qua đường. Dưới đáy thung lũng có một sơn đạo nhỏ chạy mãi vào trong khe núi, cảnh vật thâm u lành lạnh. Vượt qua sơn đạo thì đến một lối bậc thang dẫn thẳng lên một đỉnh núi khác, từ dưới nhìn lên thấy mây giăng mù mịt.

          Thằng Sang có vẻ ái ngại: “Tao thấy hơi ghê ghê đấy tụi mày.”

          Nhưng thằng Hùng thì lại hào hứng: “Núi vầy mới gọi là núi chứ.”

          Sườn núi dốc rất gắt khiến cho những bậc thang có độ nghiêng lớn. Leo được một đoạn mấy đứa chúng tôi ai cũng run lẩy bẩy chỉ sợ té xuống dưới, cũng may hai bên có lan can để bám vào, nếu không thí khó mà đủ dũng khí leo tiếp. Tới lưng chừng núi tôi hơi ngoái nhìn xuống dưới, độ cao khiến tôi choáng váng cả mặt mày, có cảm giác như mình đang chơi vơi giữa trời. Gió thổi ào ào như muốn cuốn phăng chúng tôi đi. Thằng Sang với thằng Hùng còn đỡ, như Thủy Tiên với Trúc Linh thì đã khiếp xanh mặt rồi. Riêng Ả Đặng thì vẫn tươi cười, dáng điệu thong thả như đi trên đất bằng, cứ luôn mồm động viên chúng tôi đừng sợ, lại cố gắng đỡ lấy hai đứa con gái, vậy nên chúng tôi cũng phần nào bình tĩnh lại. Tôi trộm nghĩ Ả Đặng là con gái mà còn can đảm vậy, tôi là can trai mà tỏ ra sợ hãi thì đúng là mất mặt, bèn gắng góp nhặt hết can đảm mà tỏ vẻ tỉnh bơ. Thằng Sang với thằng Hùng chắc cũng cùng chung tâm trạng nên dù trong lòng thì hãi lắm mà vẫn cố cười nói.

          Càng lên gần tới đỉnh núi thì dốc lại càng thoai thoải dễ đi hơn, lúc ấy chúng tôi mới có thời gian trầm trồ trước cảnh núi non hùng vĩ hiện ra giữa những tầng mây. Ngọn núi này cây cối um tùm, vươn cao hơn hết thảy các ngọn núi trùng trùng xung quanh, kiêu hùng như một vị đại tướng quân đứng giữa trận mạc. Trên đỉnh núi có một con đường mòn khác dẫn đến một cửa hang to như cổng một tòa lâu đài, khác hẳn những hang núi trong tưởng tượng của chúng tôi. Trông nó giống như được xây lên hơn là tự nhiên mà có.

          Tất cả cùng tiến vào hang.

          Kiến trúc bên trong lại càng đồ sộ hơn. Lòng hang tựa như một tòa cung điện khổng lồ nguy nga tráng lệ, chỉ khác là không được khảm ngọc dát vàng mà thay vào đó là tường đá được đẽo gọt cho bằng phẳng, trông nửa thiên nhiên nửa nhân tạo. Cuối hang có một lối đi nhỏ tựa như một hành lang tiếp tục dẫn sâu vào trong núi. Đi hết cái hành lang đó thì đến một gian động còn rộng lớn hơn bên ngoài, và quả như lời Ả Đặng nói, nơi đây là một thư viện khổng lồ. Bao quanh vách động là những giá sách cao chót vót sách vở chất đầy ắp làm chúng tôi hoa hết cả mắt. Đuốc được bố trí dày đặc và khéo léo khiến cho cả gian động tựa như được mặt trời chiếu sáng, không có vẻ gì tù mù. Chính giữa động, lùi về phía sau có một cái bàn lớn bằng  đá, có một người ngồi ở đó. Trông thấy người đó tất cả chúng tôi đều hồi hộp, ai cũng biết đó nhất định là Quan lang rồi.

          Tộc trưởng dẫn chúng tôi ra mắt trước Quan lang. Trái với tưởng tượng của chúng tôi về một cụ già râu tóc bạc phơ dài chấm đất, Quan lang hãy còn trẻ lắm, chỉ độ năm mươi tuổi, da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng như sao, vầng trán cao lồ lộ, nhưng được cái nét mặt hiền hòa và khi ông ấy nở nụ cười chào đón thì cả gian động tràn ngập bầu khí thân thiện. Chúng tôi xúm xít cúi chào lại, cũng chưa rõ phải xưng hô thế nào nên chưa ai dám mở miệng.

          Quan lang mời chúng tôi ngồi đối diện qua cái bàn đá có đường kính khoảng hai mét. Trên bàn chất nhiều sách vở, có lẽ ông ấy đang đọc.

          “Cuối cùng thì cậu cũng đã tới.” Quan lang lên tiếng, giọng nói hiền hòa, chỉ là không rõ ông nói với ai trong số chúng tôi. Nhưng tôi có cảm giác đó chính là mình.

          Cả năm đứa đều gật đầu, rồi chẳng hiểu sao bốn đưa kia đều nhìn tôi như kiểu nói: “Ông ấy nói với cậu đấy.”

          “Dạ, Ả Đặng rủ bọn cháu lên đây.” Tôi cố tỏ ra lễ phép đáp.

          Quan lang đứng dậy, chắp tay ra sau vừa đi vòng qua bàn vừa nói: “Ta trước nay vốn không muốn nói những lời dư thừa, vậy nên sẽ vào thẳng đề tài chính luôn. Nước Việt Nam ta có một tấm bia truyền quốc gọi là Bia Trời, do chính Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng ban cho. Nhưng tấm bia ấy từ ngày xưa đã bị giặc Phương Bắc đem chôn giấu đi mất, ý đồ là nhằm đày đọa dân ta phải chịu sự kiềm tỏa của chúng. Ta thuộc dòng dõi Quan lang, truyền từ đời Hùng Vương qua tất cả các triều đại lịch sử Việt Nam tới tận ngày hôm nay, có nhiệm vụ tham mưu cho các vị vua và ghi chép lại lịch sử đất nước, và từ sau khi để mất Bia Trời thì kiêm thêm nhiệm vụ phải tìm cho ra nó. Nói đơn giản là thế nhưng công việc thực sự phức tạp hơn nhiều. Qua thời gian nghiền ngẫm sách vở lâu dài, đến đời ta đã tìm ra chút manh mối về Bia Trời, vậy nên ta cần một người đủ sức để đi tìm nó về đây. Cậu chính là sự lựa chọn của ta.”

          Tôi gần như giật nảy người trên ghế khi nghe điều đó. Dù Ả Đặng đã nói từ trước nhưng thông tin này vẫn làm đầu óc tôi choáng váng, như thể tự dưng bị đặt lên vai một cái bao tải nặng cả tạ vậy. Nhưng tôi vẫn ngồi im không nhúc nhích, chẳng biết phải nói gì.

          Quan lang nói tiếp: “Ta biết cậu rất ngạc nhiên. Nhưng cậu yên tâm, chưa phải lên đường đi ngay bây giờ đâu. Trước khi bắt đầu nhiệm vụ này, cậu, và cả mấy đứa nữa, cần phải thông suốt lịch sử nước ta, từ những đời vua đầu tiên cho đến tận những đời vua sau cùng. Trong một hoặc hai tháng các cậu ở ở lại đây, ta sẽ lần lượt thuật lại chi tiết từng triều đại cho mà nghe. Mấy đứa biết được bao nhiêu về lịch sử nước nhà?”

          Không đứa nào dám nói gì, vì thật ra kiến thức lịch sử của chúng tôi mơ mơ hồ hồ lắm, bây giờ mà Quan lang hỏi đến năm tháng trận đánh này chiến dịch nọ thì chúng tôi chỉ có nước bó tay thôi.

          Cuối cùng Thủy Ngân lớp phó đại diện cả nhóm đành phải đáp: “Dạ thưa…” Ả Đặng ghé tai nói nhỏ “Quan lang”, Thủy Ngân tiếp. “Dạ thưa Quan lang, bọn cháu học lịch sử cũng còn yếu lắm ạ, chưa thông được tới đâu hết, mong Quan lang chỉ bảo cho.”

          Quan lang gật đầu cười nói: “Vậy mỗi ngày hai tiếng buổi sáng, hai tiếng buổi trưa, ba tiếng buổi tối mấy đứa ngồi đây nghe ta kể chuyện, có làm được không?”

          Thằng Hùng và thằng Sang nghe vậy thì đã thấy hơi ngán, tức là cả mùa hè này chỉ có ngồi chết trong động mà thôi, nhưng không dám phản kháng.

          Tôi đáp: “Dạ được ạ!”

          Quan lang nói: “Cái này ta không ép mấy đứa, nếu trong thời gian này đứa nào thấy không chịu được thì cứ tự tiện ra về.”

          Thủy Ngân nói: “Chúng cháu sẽ cố gắng ạ!”

          Quan lang cười nói: “Vậy chúng ta sẽ bắt đầu ngay bây giờ. Mấy đứa đi theo ta, còn Tộc trưởng xin cám ơn ngài đã ghé đến đây.”

          Tộc trưởng cười nói: “Vì chúng vẫn còn trẻ lắm, Quan lang cứ thong thả. Mỗi ngày tôi sẽ cho người mang đồ ăn ngon lên.”

          Quan lang cười ha hả: “Xin Tộc trưởng yên tâm. Mỗi ngày ngoài giờ ngồi nghe kể chuyện, chúng sẽ được tự do muốn đi đâu thì đi. Núi non ở đây phong cảnh cũng hữu tình lắm.”

          Nói xong Quan lang đi vào trong động, chúng tôi lục tục theo sau, Tộc trưởng thì ra về.

          Đi qua mấy hàng giá sách, qua một cái lối đi chật hẹp, chúng tôi lại tới một gian động khác, chật hẹp hơn và tối tăm hơn. Trong này chỉ có vỏn vẹn hai cây đuốc cắm ở hai vách tường, vừa đủ để thấy mặt nhau mà thôi, không rõ chung quanh có gì, cảnh vật cứ hư hư thực thực. Tất cả ngồi xuống một tấm phản rộng, Quan lang đối diện chúng tôi. Bỗng hai ngọn đuốc tắt rụp, chung quanh tối như hũ nút, không thấy cái gì nữa. Rồi trước mặt chúng tôi sáng lên một ngọn nến nhỏ cháy leo lắt trong bóng tối. Ngọn nến tỏa ra một vầng hào quang ma mị soi vào khuân mặt Quan lang, trông rất thần bí, biến ông ta thành một thứ chẳng khác gì bóng ma. Trong lòng chúng tôi cảm thấy vừa sờ sợ vừa thú vị, tựa như đã lạc hẳn sang một thế giới khác. Ngồi bên trái tôi là Ả Đặng, khuân mặt nàng cũng hiện lên dưới ánh nến, xinh đẹp một cách kì lạ, nàng mỉm cười với tôi. Bên cạnh nàng là Trúc Linh. Bên phải tôi là thằng Hùng, ánh mắt nó đang chằm chằm nhìn vào Quan lang như bị thôi miên, vẻ mặt hơi căng thẳng. Thủy Ngân ngồi cạnh nó, thằng Sang ngồi ngoài cùng. Sáu người chúng tôi tạo thành một cái hình bán nguyệt bao quanh ngọn nến và đối diện với vẻ mặt không có chút biểu cảm nào của Quan lang.

          Tất cả im lặng hồi lâu, Quan lang không nói gì, chúng tôi lại càng không dám nói.

          Bỗng thấy ông ấy đặt trước mặt một quyển sách dày cộp không biết lấy từ đâu ra, rồi chậm chậm lật giở những trang đầu tiên.

          Sau cùng Quan lang lên tiếng hỏi: “Mấy đứa có biết bộ sử thi nào của đất nước ta không?”

          Sáu người chúng tôi nhìn nhau, tôi lên tiếng đáp: “Theo chỗ con biết, dân tộc Ê Đê có sử thi Đam San và sử thi Xinh Nhã, còn dân tộc Mường có sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước.”

          “Thế mấy đứa có biết người Việt, hay người Kinh, có bộ sử thi nào không?” Quan lang hỏi.

          Chúng tôi đều lắc đầu.

          Quan lang mỉm cười, dưới ánh nên trông rất kì quặc: “Có đấy! Ngay từ những ngày đầu dựng nước, người Việt đã viết sử thi rồi. Cuốn sử thi ấy truyền qua các đời vua, mỗi triều đại lại được viết thêm vào. Nhưng tiếc thay đến loạn mười hai sứ quân thì lại thất truyền, các tài liệu lịch sử vốn đã ít ỏi của nước ta lại cũng không chép đến, cho nên không một ai biết về cuốn sử thi ấy. Nhưng riêng dòng họ Quan lang ta vẫn còn giữ, và nay ta kể câu chuyện này cho các con nghe cũng là xuyên suất theo dòng chảy của cuốn sử thi. Ta sẽ bắt đầu từ triều đại Hùng Vương thứ mười tám, là thời điểm chuyển giao lịch sử sang triều đại nhà Thục.

          Có một mùi hương thoang thoảng lướt qua mũi tôi. Bỗng đầu óc tôi cảm thấy hơi choáng váng, mọi thứ chung quanh hoa lên, mắt bắt đầu kéo rịt xuống trong cơn buồn ngủ không sao cưỡng lại. Tôi cố gắng nhìn sang những người bên cạnh thì thấy cả đám đã gục đầu thiếp đi từ bao giờ. Cuối cùng tôi cũng nhắm mắt. Thế nhưng điều này hoàn toàn khác một giấc ngủ, vì tôi vẫn còn ý thức được những gì diễn ra chúng quanh, chỉ là rất mông lung mà thôi. Tôi nghe thấy tiếng Quan lang đang nói: “Mấy đứa có nghe thấy ta nói không?”

          Trong mê man tôi đáp lại: “Dạ có”. Và nghe cả tiếng những đứa khác nữa.

          Quan lang lại nói, giờ hãy bắt đầu nghe ta kể chuyện đây. Rồi giọng ông cứ đều đều vang lên, những cảnh tượng trong truyện hiện rõ mồn một trong đầu chúng tôi.