Chương 6: Hội Trăng

Like & Share:

Trong bản diễn ra một cảnh tưởng rất hoành tráng. Từng đoàn từng đoàn người chen chúc trên đường kéo nhau đi lên trên đỉnh núi, tiếng cười nói rộn rã khắp nơi. Có mấy tốp thanh niên vác cồng chiêng, mấy tốp khác lại gù trên lưng những bó củi lớn lắm, họ đi song song với cánh những cô gái trẻ, cười nói vui vẻ với nhau. Phía sau là đến lượt các cụ cao niên trong bản, số này cũng đông lắm, được con cháu dìu dắt leo lên những bậc thang; sau nữa là những ông bố cõng trên lưng những đứa trẻ đang toe toét cười, có các bà mẹ đi kèm bên cạnh nữa. Trẻ con thì chạy nhảy lăng xăng khắp nơi. Bố cục chung của đoàn người đại khái là như vậy, và cảnh tượng diễn ra dưới ánh sáng của những bó đuốc trên tay hầu hết mọi người. Phía xa trên nền trời quang mây là vầng trăng tròn văng vặc nhô lên trên đỉnh núi, soi bóng xuống bản làng, tựa như một con mắt không lồ đang chiếu dọi những gì xảy ra.

          “Woa…” Thủy Ngân và Trúc Linh cùng thốt lên. “Đông vui quá, tại sao cả bản lại kéo nhau đi lên núi thế kia.”

          Ả Đặng cười tươi đáp: “Hồi chiều tớ có nói là đêm nay bản có lễ hội mà. Trên đỉnh núi có một dải đất khá bằng phẳng, là nơi sẽ diễn ra lễ hội đấy. Dân bản đang cùng nhau lên đó để chuẩn bị, sẽ có đốt lửa cả đêm đấy.”

          “Còn chờ gì nữa,” thằng Sang sốt ruột nói, “chúng ta mau đi cùng họ thôi.”

          Nói xong cả bọn chạy ra hòa cùng dòng người nhộn nhịp vui tươi.

          Chẳng mấy chốc thì chúng tôi cùng nhiều người khác đã lên tới đỉnh núi, đúng là một nơi rất bằng phẳng trống trải. Đứng ở đây có cảm tưởng như cả bầu trời ụp xuống đầu mình, vì không có bất cứ thứ gì cản trở tầm nhìn cả. Tôi ngẩng mặt nhìn lên, những chòm sao lấp lánh giăng giăng như những ánh điện quả thật là một kì quan đối với tôi. Gió mơn man thổi và bắt đầu mang theo hơi lạnh, nhưng chẳng nhằm nhò gì so với cái không khí nóng hổi của buổi lễ sắp diễn ra.

          Dân bản tụ họp trên bãi đất mỗi lúc một đông. Người ta bắt đầu chất củi thành một đống rất lớn và gọn gàng có hình một tòa tháp cao có lẽ phải gấp hai lần chiều cao của tôi và đường kính thì chắc phải năm sáu người ôm mới hết. Đống củi khổng lồ ấy hứa hẹn một ngọn lửa khổng lồ. Mọi người nhanh chóng bảo nhau đứng thành những vòng tròn lớn bao quanh lấy đống củi. Vòng trong cùng là toán người đánh chiêng, đánh cồng, thổi khèn, thổi sáo, hay nói chung là ban văn nghệ. Chúng tôi là khách, lại là khách của Ả Đặng nên được phép đứng ở vòng kế tiếp cùng với những thanh niên thiếu nữ khác, các cụ già thì xếp ở vòng sau lưng chúng tôi. Tôi cũng thắc mắc không hiểu sao lại như vậy, vì cứ theo lý mà nói thì các cụ lẽ ra phải được đứng bên trong. Nhưng tôi giữ nghi vấn ấy trong lòng chưa hỏi Ả Đặng vội, vì khung cảnh cũng đang diễn ra nhộn nhịp và ồn ào lắm, khó mà nói chuyện được.

          Qua khoảng nửa tiếng thì phần xếp hàng hình như đã xong, ai đã về vị trí thích hợp của mình cả rồi. Lúc ấy thì Già làng cùng với Tộc trưởng và ba người nữa cùng nhau xuất hiện. Họ đứng ở vị trí chính giữa những vòng tròn, cạnh đống lửa, có lẽ là những vị trí đặc biệt. Riêng Già làng thì được đặt ngồi trong một chiếc kiệu do bốn thanh niên lực lưỡng khiêng tới, có lẽ vì sức cụ già rồi không cho phép leo trèo nữa. Ban văn nghệ lục tục tấu nhạc. Họ cũng xếp thành vòng tròn, vừa đánh trống chiêng vừa xoay vòng quanh đống củi một cách nhịp nhàng theo tiết điệu, động tác rất uyển chuyển điêu luyện. Trước mắt đống củi ấy vẫn chưa được thắp lên nên phần chiếu sáng nằm ở những cây đuốc trên tay dân bản. Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp được nghe tiếng cồng chiêng, quả thật âm thanh rất trầm hùng, nhất là giữa khung cảnh rừng núi và đêm tối thế này. Âm thanh ấy lan ra trong bóng tối, tan vào bóng tối, rồi lại vang ra từ bóng tối, khiến người nghe có cảm giác đó là một âm thanh thuộc về thiên nhiên, về núi rừng chứ không phải chỉ là của con người. Tôi nhận ra âm thanh cũng là một thứ rất khó diễn tả, khó chẳng kém gì mùi vị. Tôi nghe thấy tiếng cồng thì âm trầm mà cứ tiếp nối nhau không dứt, tiếng trước còn vang thì tiếng sau đã điểm, tạo thành một nền tiết điệu liên miên bất tận. Trên nền ấy là tiếng chiêng thanh thanh, tiếng khoan tiếng nhặt, như vội vã mà lại nhịp nhàng, như sôi sục mà lại hòa quyện. Tiếng trống thì dồn dập không ngớt, tựa như hoa tiêu dẫn lối cho cả bản nhạc. Trên cùng của chuỗi hòa âm là tiếng khèn thanh thoát đi thành những giai điệu trầm bổng, lúc thì vui tươi lúc thì trầm lắng. Tôi có cảm giác tiếng khèn ấy đang kể một câu chuyện với những tình tiết vui buồn đan xen lẫn lộn. Nhìn chung, âm nhạc khiến lòng tôi, và chắc chắn là mọi người khác nữa, lắng lại để sẵn sàng dành hết tâm hồn cho lễ hội chuẩn bị diễn ra.

          Bỗng nhiên tất cả những cây đuốc phụt tắt. Nhường phần chiếu sáng lại cho ánh trăng vằng vặc trên bầu trời. Cảnh vật bỗng chốc trở nên huyền ảo.

         Tiếng nhạc chậm rãi kết thúc và sau cùng lắng hẳn, kéo theo phía sau sự im lặng của mọi người, không ai nói gì. Qua một lúc thì vị Tộc trưởng, cha của Ả Đặng, hơi đưa tay lên cao, dân làng lục tục ngồi xuống mặt đất. Ai nấy có vẻ chăm chú, dường như chờ đợi tiết mục sắp tới mà họ đã biết. Tôi đang đoán xem liệu điều gì xảy ra tiếp theo thì Ả Đặng đã ghé tai tôi bảo: “Giờ Già làng sẽ đọc sử thi ‘Đẻ Đất Đẻ Nước’ đấy. Nội chỉ đọc một đoạn bất kì thôi, vì cả bộ sử thi thì dài lắm. Nam ngồi sát qua đây một tí Ả Đặng sẽ dịch nghĩa cho mà nghe, tại vì nội sẽ đọc bằng tiếng Mường.”

          Tôi làm theo lời nàng, kéo cả mấy đứa khác tụm lại nữa, thành ra năm người chúng tôi tạo thành một nhóm hơi “mất trật tự” so với những người còn lại. Tộc trưởng liếc nhìn chúng tôi một cái và hơi nhỉnh một nụ cười khích lệ.

          Già làng bắt đầu đọc những câu thơ bằng tiếng Mường, và Ả Đặng ngồi bên cẩn thận dịch lại cho chúng tôi hiểu nội dung. Nàng nói: “Đoạn thơ nội đọc nằm ở gần cuối bộ sử thi, trong thiên Đại Hồng Thủy. Đoạn này kể rằng thời mới đẻ đất đẻ nước xong, Tu Dịt Tu Dàng làm vua xứ Mường, đương lúc ấy thì thần linh trên trời nổi cơn ghen tức nên gieo nắng hạn rất lớn xuống trần, kéo dài từ năm này qua tháng nọ mà không dứt.

Ở trên đất Khôông nàng Út Dọ

Cun Sâm đã có nhà dọc

Chàng Sóc đã có nhà ngang

Đã có nhà cung đường chín cửa,

Nổi giận lên thành cơn

Nổi hờn lên hậm hực,

Dậy xin phép bố con vua Trời,

Ra trò nắng lớn căng căng

Nắng gắt trời nồng nực

Cạn rút nước bồng con,

Nước còn bằng lá bái

Nước sông Cái còn bằng bắp tay.

Tu Dịt Tu Dàng còn măng còn trẻ,

Vua còn non còn thơ,

Chưa biết ngồi giường da cá,

Chưa hay ngồi sập da bò,

Chân vua chưa hay đi ủng,

Tay vua chưa hay xỏ hài,

Chưa hay xỏ đai xỏ dép,

Chưa dẹp xong binh xong Mường.

Đã phải năm trời đại hạn,

Phải năm trời cạn nhiều.

Cạn hết đồng mùa chiêm phẳng rộng,

Cạn hết đồng Trắng đồng Vành

Cạnh hết đồng Anh đồng Ốc,

Cạn hết ruộng rộng ruộng quang

Cạn hết ruộng đồng trên cao dưới trũng,

Cạn hết cây sung đại trong rừng,

Cạn hết màu trên nương trên rẫy,

Cạn hết cây kế cây cà,

          Đồng nà chết cây chết lúa.

          Thấy trời nắng hạn to quá, dân Mường ai cũng khổ, kêu van kiểu gì trời cũng chẳng mưa cho. Vua Tu Dịt Tu Dàng tức lắm, bèn tìm cách để trời phải đổ nước xuống. Ông sai dân Mường làm những điều bậy bạ loạn luân để trời phải giận mà cho mưa, nhưng hoài công vô ích, trời vẫn nắng như thiêu như đốt.

Tu Dịt Tu Dàng nổi giận bừng bừng

Nổi hờn hậm hực,

Chân đạp đất miệng nguyền trời,

Tiếc công coi dân nuôi mường,

Không nên đồ vật đồ dùng việc chi:

Dậy bảo em bé chăn bò

Bảo em nhỏ chăn trâu

Rằng:

-“Đi đập trứng gà cỏ,

Đi xỏ lỗ tắc kè,

Về nhà chị em lấy nhau,

Gây ra điềm quái gở,

Cho bố con vua Trời ra mưa ra nước!”

Nghe lời tiếng ấy,

Em bé chăn trâu coi bò,

Đi đập trứng gà cỏ,

Đi xỏ lỗ tắc kè,

Về nhà chị em lấy nhau,

Trời cùng không ra mưa ra nước.

          Trong thời nắng hạn ấy núi bị nứt đẻ ra chàng Chiền chàng Rạc. Chàng Rạc thì tính tình liều lĩnh, chàng Chiền thì là người thích phá hoại. Vậy Tu Dịt Tu Dàng bèn sai hai người này mang cung mang nỏ lớn đi bắn mặt trời cho nắng hạn theo đó mà dứt. Từ sự kiện này nên mới có mặt trăng như ngày nay.

          Tu Dịt Tu Dàng bảo chàng Rạc chàng Chiền,

Rằng:

-“Chàng Rạc là người hay liều

Chàng Chiền là người hay phá.

Đi đánh giặc đánh giã,

Đánh cho bố con vua trời cho ta cùng hỡi!”

Anh em chàng Rạc chàng Chiền,

Dậy buổi sớm mai,

Giật lấy cái nơ cái lẫy xương,

Tên bằng cây bương già vót cạnh,

Đầu nỏ bằng cây ả,

Cành nỏ bằng cây khách,

Bách người kéo dây không nổi,

Ba người lên dây không được,

Vác lên núi Hang Hao lồ lộ,

          Đem lên núi Hang Hao,

          Nơi bắn sáng bắn sao.

          Bắn chọc lên cao vù vù,

          Chọc lên cao vồng vồng,

          Chín mặt trời để một lấy sáng

          Chín mặt sáng để một làm trăng.’”

          Đọc tới đây thì Già làng đã ngừng lời, nhưng Ả Đặng vẫn giải thích tiếp: “Tuy rằng bắn mặt trời xong rồi nắng hạn vẫn không dứt, câu chuyện phía sau hẵng còn dài, nhưng vì đây là Hội Trăng cho nên đoạn thơ vừa rồi chủ yếu dùng để nói cho dân bản biết nguồn gốc của mặt trăng từ đâu mà ra thôi.”

          “Hội Trăng ư!?” Mấy đứa chúng tôi đua nhau lập lại.

          Ả Đặng cười nói: “Phải rồi, Ả Đặng quên chưa giới thiệu với các bạn. Lễ hội đêm nay gọi là Hội Trăng, mỗi năm tổ chức một lần vào rằm tháng năm, là lúc mà dân bản cho rằng trăng sáng nhất. Hội Trăng là để nhắc lại chuyện vua Tu Dịt Tu Dàng cho người đi bắn mặt trời, đem lại an bình cho dân Mường. Một lát nữa trong dân sẽ có hai chàng dũng sĩ diễn lại cảnh bắn mặt trời. Sau đó các thiếu nữ trong bản sẽ cùng kéo ra nhảy múa để chúc mừng hai người ấy. Trong lễ hội này một thiếu nữ xinh đẹp nhất trong bản sẽ hóa thân thành tiên nữ để chúc phúc cho mọi người.”

          Tôi đang định hỏi Ả Đặng xem thiếu nữ xinh đẹp ấy là ai thì đã nghe tiếng cồng chiêng dồn dập vang lên. Ban văn nghệ tấu một khúc nhạc rất hùng tráng, bước đi của họ vội vã hơn quanh đống lửa. Vị Già làng được các thanh niên khiêng đi chỗ khác, rồi Tộc trưởng tay cầm một ngọn đuốc rực cháy châm vào đống củi khổng lồ, lửa tức thì bừng lên ngùn ngụt, bốc cao tới gần chục mét. Hình như họ có tẩm thêm chất gì đó nên lửa mới chạy tợn đến vậy.

          Lửa vừa cháy thì tất cả dân bản lập tức đứng lên và bắt đầu di chuyển. Họ nắm tay nhau và nhịp nhàng xoay quanh đống lửa theo nhịp trống, đồng thanh hát một bài có vẻ như là dân ca Mường, giai điệu dìu dặt nửa như kể chuyện nửa như hát. Chúng tôi cũng bị quấn theo những vòng xoay, vội vã nắm tay nhau rồi nhịp chân xoay theo mọi người, khác cái là không biết phải hát làm sao.

          Tôi nắm tay Ả Đặng. Bàn tay nàng mềm mại hơn tôi tưởng, mà thực ra tôi cũng chưa hề tưởng tượng xem tay nàng mềm mại thế nào, khiến lòng tôi hơi xao động, nhất là đôi mắt tròn long lanh của nàng cứ nhìn vào tôi với một nụ cười tươi như hoa rừng. Nàng cố gắng nói cho tôi hiểu: “Đống lửa lớn kia là tượng trưng cho nắng hạn đấy.”

          Khi bài hát vừa dứt thì những vòng xoay đột nhiên dừng lại, nhưng tiếng nhạc vẫn tiếp tục. Từ trong dân bản có mấy thanh niên kéo nhau ra giữa bãi. Họ xoay quanh đống lửa đang cháy bừng bừng, mỗi người cầm một cái khiên lớn, trên có vẽ hoa văn giống mặt trời. Tôi hiểu ra ngay họ chính là chín mặt trời trong câu chuyện mà Già làng khi nãy kể. Nhạc tấu gấp gáp hơn, tiếng cồng chiêng, tiếng trống dập thùng thùng không ngớt báo hiệu có chuyện hệ trọng xảy ra. Quả đúng như vậy, bên trong bãi chợt xuất hiện hai thanh niên khác vác theo mỗi người một cây cung lớn. Hai xạ thủ này vừa xuất hiện, tức thì chín mặt trời kia dồn lại với nhau một cách hoảng hốt, rồi chạy qua chạy lại một cách nhịp nhàng bên kia đống lửa, tựa như muốn tránh những mũi tên mà họ biết các xạ thủ sắp sửa bắn ra.

          Mọi việc diễn ra tuy không có gì bất ngờ nhưng lại rất lí thú và hồi hộp, hai xạ thủ đứng bên này đống lửa nhanh chóng nắp tên – những mũi tên được bịt đầu bằng vải – rồi nhằm vào chín mặt trời phía bên kia mà bắn. Tên vừa vượt qua đống lửa thì tức thì có hai mặt trời, bằng một động tác rất đẹp mắt, quỵ xuống. Các mặt trời còn lại càng hoảng hốt hơn, di chuyển nhanh hơn theo tiếng nhạc đang dồn dập hơn. Hai xạ thủ trái lại rất bình tĩnh, thản nhiên nắp thêm hai mũi tên khác và nhanh chóng hạ thêm hai mặt trời nữa. Tiếng dân bản reo hò cổ vũ họ. Cứ thế các mặt trời rơi rụng dần, sau cùng chỉ còn sót lại hai vầng. Đây chính là lúc xảy ra biến chuyển. Một xạ thủ nắp tên bắn sang, nhưng mũi tên thay vì ghim thẳng vào ngực mặt trời như mấy lần trước thì lại chỉ ghim trúng bắp chân thôi. Thành ra mặt trời ấy chỉ đi hơi lảo đảo chứ không gục ngã. Tôi hiểu ra ngay ý nghĩa của việc này, mặt trời đó bị bắn trọng thương nên ánh sáng yếu đi đáng kể và trở thành mặt trăng, thì ra là vậy. Tôi hớn hở quay sang Ả Đặng để xác nhận lại ý tưởng của mình, nhưng nàng ta đã đi đâu mất từ lúc nào mà tôi chẳng hay.

          Ngay khi ấy thì tiếng nhạc thay đổi, từ tiết tấu dồn dập của một trận chiến chuyển thành sự rộn rã vui tươi của một ngày hội. Các mặt trời đã bị bắn hạ lồm cồm bò dậy rời khỏi bãi. Từ trong dân bản một đoàn thiếu nữ túa ra vây quanh đống lửa, mặt trời duy nhất còn sót lại, mặt trăng và hai xạ thủ, rồi bắt đầu nhảy múa theo một nhịp điệu mà tôi cảm thấy rõ được sự mừng vui hớn hở. Tốp vũ công ấy nhảy múa một hồi rồi tản ra chung quanh, chỉ còn để lại ở giữa một mặt trăng mà thôi, tức là người bị tên bắn trúng vào đùi. Rồi kế đến lại xuất hiện một thiếu nữ trong trang phục rạng ngời lướt đến. Nàng mặc váy trắng dài thướt tha, trên đầu cuốn khăn dài và nét mặt rạng ngời khôn tả. Nàng chính là Ả Đặng. Hóa ra “cô gái xinh đẹp nhất bản” mà Ả Đặng nói tới cũng chính là nàng. Nàng và anh chàng trong vai mặt trăng kia tươi cười nhảy múa với nhau. Dân làng cũng hòa chung niềm vui ấy, vồn vã nắm tay nhau xoay tròn quanh đống lửa và bắt đầu hát. Không khí tức thì trở nên nhộn nhịp. Bọn chúng tôi cũng rất hứng thú, vui chân nhảy theo mọi người.

          Buổi lễ còn kéo dài mãi tới tận đêm. Sau những màn trình diễn theo kịch bản ấy rồi thì số người chơi hội dần giảm xuống. Bắt đầu là các cụ cao niên lần lượt về trước, tiếp đến là các bậc gia trưởng và cánh các bà vợ, rồi trẻ con cũng về, sau cùng chỉ còn lại cánh thanh niên thiếu nữ là ở lại vui chơi múa hát với nhau tới tận khuya, dưới ánh lửa bập bùng trên mặt đất và ánh trăng rực rỡ trên trời. Ả Đặng nói Hội Trăng tuy chỉ diễn ra một đêm nhưng là hội vui nhất của bản, chỉ sau Hội Mùa và Hội Mừng Năm Mới thôi. Dịp này cũng là lúc các đôi trai gái tỏ tình với nhau, cầu hôn lẫn nhau, vì tất cả đều quan niệm rằng những mối tình nào đơm hoa kết trái trong hôm nay thì sẽ được ánh trăng kia chúc phúc, mãi mãi trường tồn và ngọt ngào.

          Tan hội về chúng tôi cũng chưa ngủ vội, kéo cả ra sân nhà Ả Đặng nằm ngắm trăng. Gió núi tạt từng hồi mát rượi. Ai cũng có cảm giác ánh trăng đêm nay thật đặc biệt. Tiếng người cười rúc rích lan tỏa trên những con đường trong bản, lâu rồi tắt dần, cuối cùng tất cả chìm trong ánh trăng bàng bạc và sự tĩnh lặng êm đềm.

          “Buổi lễ thật vui và ý nghĩa.” Thằng Sang nói, và luôn luôn kèm thêm một nhận xét vô duyên. “Tiếc là chả có con nghệ nào để tao tỏ tình đêm nay.”

          “Tao xin mày bớ cái vẻ thơ thẩn ấy đi.” Thằng Hùng chế giễu. “Mà quên, mày có con nhỏ bạn chơi thân lắm mà phải không. Nhắn tin cho nó đi.”

          “Con đấy giờ chắc say như chết rồi.” Thằng Sang nói. “Tao mà nhắn tin hơi muộn tí là thế nào nó cũng chửi.”

          Rồi bọn tôi lại im lặng.

          “Không biết ngày mai gặp Quan lang thì sẽ thế nào nhỉ?” Trúc Linh nói.

          “Sẽ rất đặc biệt đấy!” Ả Đặng đáp. “Ít nhất là với các bạn.”

          “Đặc biệt thế nào?” Thằng Sang mau miệng nói.

          Ả Đặng cười: “Quan lang sống trong một hang núi rất rộng. Nội thất trong hang đã được dân bản đục đẽo thiết kế thành một thư viện khổng lồ, chất rất nhiều sách cổ xuyên xuất các triều đại lịch sử Việt Nam, cho nên các bạn sẽ không dám nghĩ là mình đang ở trên núi đâu. Quan lang là người rất thông thái, cho nên khi trò chuyện các bạn phải thành thực mà nói. Điều đặc biệt nhất là Quan lang sẽ thuật lại lịch sử của nước ta cho các bạn nghe, theo cách mà các bạn chưa bao giờ được biết hoặc tưởng tượng tới đâu.”

            “Nghe cậu nói vậy bọn mình cũng sốt ruột thật,” Thủy Ngân nói, “ráng đợi đến sáng mai vậy.”