Chương 5: Về Bản

Like & Share:

Sáng hôm sau cả đám bọn tôi được Ả Đặng tập trung lại để nói rõ mục đích chính của chuyến đi, rõ y như là đã rõ với tôi vậy. Bọn chúng cũng được xem cuốn sách cổ kia nữa. Và đương nhiên tất cả đều lần lượt đi từ cảm giác kinh ngạc, nghi ngờ, hoang mang đến tò mò, thú vị, và cuối cùng đều nhất trí rằng chuyến đi này mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao, và ai cũng lấy đó làm hào hứng lắm. Vì xét cho cùng, ở độ tuổi chúng tôi ai mà chẳng thích một cái gì đó bí bí ẩn ẩn.

          Chúng tôi đón xe đi lên bản của Ả Đặng trong sự phấn khích. Đường lên bản núi đồi chập trùng, tựa như đang đi thẳng lên trời vậy. Xe đi được chừng hai giờ thì dừng lại ở một bến bên đường, tất cả hành khách đều xuống cả chỉ còn lại năm đứa chúng tôi. Sau đó chiếc xe rẽ vào một con đường đất, và đoạn đường từ đây trở đi mới thật sự có thể gọi là đường núi: những con dốc nhấp nhô như sóng biển, ổ gà ổ voi chằng chịt trên mặt đường, tất cả khiến chiếc xe tưng lên tưng xuống như cái bập bênh, bọn chúng tôi ngồi trong mà cũng chóng hết cả mặt.

          Đến độ ba giờ chiều thì trước mắt chúng tôi hiện ra một ngôi làng nhỏ trải ra trên một sườn núi khá trống trải. Từ xa có thể nhìn thấy những mái nhà lợp tranh hiện lên giữa những tàn cây, những lối đi bậc thang uốn éo đan xen trong làng. Đây đó thấp thoáng bóng người, có lúc thì đi thành từng nhóm, có lúc lại dẫn theo mấy con bò. Trông gần thế mà cũng phải nửa giờ sau chiếc xe mới đỗ trước cổng làng, hay là bản như Ả Đặng gọi.

          Tất cả chúng tôi xuống xe theo Ả Đặng vào trong bản. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt những người thành phố như chúng tôi là những căn nhà sàn trồi ra trên sườn núi, cái nọ tiếp giáp cái kia, xếp thành từng hàng đi dần lên trên đỉnh núi, trông như những bậc thang khổng lồ. Để di chuyển trên địa hình dốc như vậy dân bản đã khéo léo xây những sơn đạo được lát đá phẳng lì chạy vắt qua những dãy nhà. Thằng Sang cứ nghểnh cổ nhìn lên cố đếm xem có bao nhiêu dãy nhà tất cả, nhưng ánh mặt trời buổi chiều làm nó lóa mắt.

          “Đừng có đếm nữa,” thằng Hùng nói, “hỏi Ả Đặng là biết ngay thôi chứ gì.”

          Cảnh buổi chiều mới thật là tráng lệ. Ánh mặt trời lơ lửng trên đỉnh núi phủ xuống núi đồi một màu vàng như mái tranh mới lợp. Tôi hướng mắt nhìn xuống thung lung heo hút, một bức tranh rực rỡ hiện ra với tông vàng của ánh mặt trời làm chủ đạo, xen lẫn là những mảng xanh của cây cối, lại có những dải màu nâu nâu và đen đen của đất đá đan xen nhau. Gió từ hướng đông thổi thẳng vào trong bản không gặp vật cản gì cho nên rất mạnh, tóc tai quần áo chúng tôi cứ bay phần phật như diều, nhưng cảm giác thì đương nhiên vô cùng thích thú, tựa như đang lơ lửng giữa không trung vậy.

          Ả Đặng chỉ lên một dãy nhà nằm mãi phía trên đỉnh núi nói: “Nhà Ả Đặng nằm ở dãy trên cùng đấy, leo lên tới đó chắc sẽ hơi mệt nên các bạn cố gắng nhé.”

          Bọn chúng tôi trái lại thấy rất phấn khích, cả đám ai cũng đang muốn lên trên dãy nhà cao nhất đó xem sao. Trên đường đi chúng tôi gặp nhiều người, ai cũng vui vẻ chào hỏi Ả Đặng khiến nàng bận bịu luôn, nhất là bọn trẻ con thấy nàng còn đu đeo đi theo cả một đoạn dài, cho đến khi bị người lớn gọi giật lại mới chịu buông. Trên lan can của những căn nhà sàn, nhiều cụ già ngồi nhìn xuống đường, thấy Ả Đặng cũng gọi với tới chào mấy tiếng.

          “Cái Ả đi học về rồi đấy à?”

          “Dẫn bạn thành phố lên chơi đấy hả?”

          “Đi đường về có mệt không, ghé vô uống chút nước.”

          Cứ mỗi câu như vậy thì nàng ta lại phải cười chào lại một lần. Nhưng trông nàng không có vẻ gì là bị làm phiền, trái lại rất vui vẻ, vậy đủ thấy ở bản này nàng rất được yêu quý và là người rất quan trọng.

          “Kiến trúc bản của Ả Đặng hình như hơi lạ nhỉ.” Tôi căn lúc nàng vừa rảnh một chút thì nói ra suy nghĩ của mình ngay khi vừa tới đây. “Không giống như bản của các dân tộc mà Nam thấy trên TV hay sách vở. Chúng không được xây dựng theo lối công phu như thế này.”

          Ả Đặng cười tươi nói: “Đúng vậy, bản này được xây dựng theo thiết kế riêng của Quan lang nhà Ả Đặng. Người trong bản là cùng một gia tộc với nhau đấy.”

          Thủy Ngân đang chụp một tấm ảnh thung lũng bên dưới, cũng có thắc mắc: “Bản của Ả Đặng quang cảnh rất đẹp, nhưng hơi hẻo lánh thì phải. Khi nãy hình như chỉ có mỗi bọn mình trên xe, như vậy tức là ở đây ngoài bản này ra thì không còn bản nào khác đúng không?”

          Ả Đặng cười tươi đáp: “Đúng rồi đấy, bản này là duy nhất trong vùng núi này. Con đường đất mà khi nãy chúng ta đi cũng là người trong bản xây dựng, vì ít khi có người qua lại nên nó mới ghồ ghề và khó đi đến vậy. Một tuần mới có một chuyến xe chạy vào bản, mà nếu không có trên năm vị khách thì xe cũng không đi luôn.”

          Nói tới đó thì chúng tôi đã đi hết dãy nhà thứ nhất, nằm ở dưới cùng. Cuối đường có một lối bậc thang dẫn lên những dãy nhà phía trên. Đi hết phân nửa những bậc thang ấy thì chúng tôi đã bắt đầu thấy mỏi chân lắm rồi, bèn ngồi nghỉ một lát. Chỗ này là lưng chừng núi, lại ở bên hông của bản nên tầm nhìn rất bao quát. Cả cái bản cùng với một dải núi đồi đều thu vào trong tầm mắt của chúng tôi. Chụp hình mỏi tay rồi chúng tôi lại tiếp tục đi lên. Càng lên cao chúng tôi dần nhận ra quy mô của những dãy nhà càng thu hẹp lại, trên dãy cao nhất thì chỉ còn vỏn vẹn năm căn nhà. Từ đây nhìn xuống mới thấy rõ là cái bản này hình tam giác.

          Ả Đặng nói: “Dãy nhà trên cao nhất này dành cho những người có địa vị nhất trong bản, nhà của Ả Đặng nằm ở giữa, trong nhà Ả Đặng có Già làng.”

          Nàng nói xong thì chúng tôi cũng vừa đi tới căn nhà đó. Nó to hơn hẳn những căn nhà khác, bề thế hơn, kiên cố hơn, lộng lẫy hơn, trông rất giống một biệt thự trên núi nhưng theo phong cách dân tộc. Chúng tôi theo Ả Đặng đi lối cầu thang dẫn lên nhà, trong nhà liền có một người phụ nữ và ba đứa nhóc bước ra đón.

          “Thưa mế con mới về!” Ả Đặng tươi cười nói. “Bộ có nhà không mế?”

          Người được nàng gọi là mế đó là một phụ nữ trung niên, xinh đẹp, có khuân mặt đầy đặn với đôi mắt tròn xoe, da dẻ hồng hào cho thấy ít phải lao động chân tay. Bà xếp trên đầu một cái khăn đen, mặc tà áo trắng. Bà tươi cười đón con gái về nói: “Mế cứ tưởng ngày mai chúng mày mới về. Bộ đi lên nương rồi, chắc lát sẽ về.” Trong lúc bà nói thì ba đứa nhóc hai trai một gái trông rất xinh xắn đã bâu quanh Ả Đặng cười nói không ngừng.

          “Chị Ả mới về, hoan hô chị Ả mới về.”

          “Chị Ả có quà cho bọn em không?”

          “Em nhớ chỉ Ả lắm đó.”

          Bọn chúng tôi lần lượt cất tiếng chào chủ nhà, bắt đầu từ lớp phó Thủy Ngân, rồi Trúc Linh, tôi là đứa đứng sau cùng. Bà cũng vui vẻ chào lại chúng tôi, còn hỏi han đại loại như đi đường có mệt không, đến đây thấy làm sao. Chúng tôi cũng đại khái trả lời là không mệt, ở đây cảnh rất đẹp. Thằng Hùng còn lỡ mồm nói quá rằng cuộc sống ở đây rất vui và con người rất tốt bụng.

          Sau phần chào hỏi chúng tôi được mời vào trong nhà ngồi quây quần bên một cái bàn trà nước đã sẵn sàng. Căn phòng có lẽ là phòng khách này rất rộng rãi, có một cái phản lớn kê ở góc phòng, có một bàn thờ, bên trên thờ gì thì tôi không đoán được, chỉ là một khối hình tròn tròn như trái banh, chưa thấy bao giờ. Ả Đặng biến mất vào gian nhà trong một lúc lâu sau mới thấy ra, đã thay một bộ đồ mới. Nàng nói với bọn tôi: “Mế Ả Đặng sắp cho Nam với Sang với Hùng một phòng, còn Trúc Linh với Thủy Ngân thì ở một phòng. Các bạn vào thay đồ đi rồi chúng ta cùng ra ngoài đi dạo một chút. Tối nay trong bản có lễ hội đấy, sẽ rất vui cho mà xem.

          Bọn chúng tôi rửa ráy mặt mũi chân tay xong thì trời đã xế chiều rồi, bèn kéo ra cái ban công rộng như một cái sân của nhà Ả Đặng ngồi ngắm cảnh. Trước mắt là bầu trời xanh rộng mở với những vạt mây trắng nối đuôi nhau vắt qua bầu trời, mấy cánh chim vội vã đuổi nhau vay về những rặng núi đây đó. Dóng mắt nhìn xuống những dãy nhà phía dưới, nhìn xuống thung lũng cảnh lại càng đẹp đến khó tả. Từ các dãy nhà khói bếp đua nhau bốc lên cao, cuộn vào nhau tạo thành một làn sương mỏng trùm lên sườn núi, tiếng trẻ con cười nói nô đùa vang lên í ới từ khắp mọi phía. Cánh đàn ông lên nương giờ đang kéo nhau về qua những con đường trong bản, họ dần dần tản vào từng nhà từng nhà một, ai nấy vẻ mặt vui tươi, công việc nương rẫy dường như chẳng làm họ thấy mỏi mệt. Mấy đứa chúng tôi lặng người ngắm cuộc sống thanh bình nơi rừng núi, thấy đời mới bình dị làm sao và kì diệu làm sao.

          “Người trong bản của Ả Đặng sống hạnh phúc quá nhỉ!” Trúc Linh nhận xét.

          Ả Đặng mời chúng tôi uống trà ăn bánh, nói: “Đúng vậy. Ả Đặng rất yêu cuộc sống nơi đây, xuống thành phố học cũng là điều bắt buộc thôi, ngay khi học xong là Ả Đặng về đây ngay, chẳng sống làm gì ở một nơi tù túng ngột ngạt như chỗ các bạn đâu.”

          “Chắc tớ cũng sẽ đây sống quá, rừng núi thế này mới gọi là sống chứ.” Thằng Sang, vốn là đứa rất ít khi suy nghĩ trước khi nói, nêu lên cảm tưởng của mình.

          “Thôi đi ông!” Thủy Ngân xẵng giọng. “Tướng ông mà cho lên núi thì chỉ ba ngày là bỏ chạy về thành phố. Ông có biết làm nương làm rẫy không mà đòi?”

          Thằng Sang quê độ gân cổ lên nói: “Có cái gì đâu chứ, không biết thì học thôi.”

          Thằng Hùng về phe với Thủy Ngân: “Thôi, mày về đây gái bản lại chạy hết xuống thành phố thì khổ.”

          Thằng Sang biết mình cãi không lại nên thôi, tợm một ngụm trà rồi ăn một miếng bánh, nói bâng quơ: “Chưa chắc nhá!”

          Giữa lúc ấy thì có một người đàn ông lực lưỡng, khuân mặt uy nghi với nước da ngăm đen, tướng tá rất lẫm liệt bước lên nhà. Ả Đặng lập tức đứng lên nói: “Bộ lên nương mới về!”

          Chúng tôi biết đó là cha của nàng nên cũng hấp tấp đứng cả dậy cúi chào rồi mỗi đứa một câu thưa gửi.

          Người đó nở một nụ cười xua tan đi nét mặt rắn rỏi nói: “Ừ, mấy đứa lên chơi. Cứ xem đây như là nhà mình. Mà con gái đã dẫn chúng bạn đến chào Già chưa?”

          Ả Đặng lễ phép đáp: “Dạ chưa bộ! con còn đợi bộ về rồi mới dẫn các bạn vào.”

          Ông ta gật đầu nói: “Vậy mấy đứa chuẩn bị đi rồi vào chào Già, tối nay trên núi có hội, con dẫn các bạn lên chơi nhé.” Nói rồi ông đi vào nhà.

          “ ‘Già’ là ai vậy Ả Đặng?” Tôi hỏi ngay, thay cho cả mấy đứa kia.

          “Là Già làng. Già sống ở nhà dưới.” Nàng ta đáp.

          “Vậy sao khi nãy cậu không dẫn bọn tớ xuống chào luôn?” Thủy Ngân hỏi.

          “À,” Ả Đặng nói, “thông thường thì phải là chủ nhà mới được dẫn khách đến chào Già làng, mà Ả Đặng đâu phải chủ nhà đâu, nên mợi đợi bộ Ả Đặng về dẫn các bạn vào chào.”

          “Già làng là thế nào nhỉ?” Thằng Sang hỏi, và giá như nó không nói gì thêm thì đó hẳn đã là một câu hỏi bình thường rồi, và sẽ không bị Trúc Linh mắng là vô duyên. “Có phải là kiểu mấy ông pháp sư hay yểm bùa trong phim không?”

          Ả Đặng không hề phật ý với lối nhận xét đó của thằng Sang, tươi cười giải thích: “Không phải. Trong bản của Ả Đặng thì Già làng là người già nhất trong làng, rất được tôn kính, lại cũng là người thông thái nhất nữa. Già làng thuộc lòng sử thi ‘Đẻ Đất Đẻ Nước’, vào những hội lớn của bản thì sẽ đem ra đọc cho dân làng nghe, như tối nay chẳng hạn, các bạn sẽ được nghe đấy. Già làng còn là vị cố vấn cho những vấn đề lớn của bản nữa, như là chọn ai làm Tộc trưởng, giải quyết các tranh chấp. Nhiều gia đình sinh con cũng đều đem đến xin Già làng chúc phúc và đặt tên cho. Tên của Ả Đặng cũng là Già làng đặt đất, theo tên của một nhân vật truyền thuyết của dân Mường. Già làng là ông nội của Ả Đặng. Thấp hơn Già làng thì có Thầy Mo, là người đảm nhiệm những công việc tâm linh của dân trong bản như là cúng bái, ma chay, khấn vái. Thầy Mo cũng thuộc “Đẻ Đất Đẻ Nước” nhưng sử dụng như một nghi thức trong việc khấn vái thôi. Thầy Mo trong làng này là chú ruột của Ả Đặng. Nhà của chú ấy nằm ở đầu dãy đấy. Cả năm căn nhà ở dãy trên cũng này đều là của những người có vai vế nhất làng. Tiếp sau Thầy Mo là đến Tộc trưởng, cũng tương đương với chủ tịch phường chỗ các cậu vậy, nhưng mà thực quyền lớn hơn nhiều, có quyền tuyệt đối trên dân, không phải nhận lệnh hay chỉ thị từ bất kì cấp nào nữa cả, gần như là một ông vua vậy. Tộc trưởng chính là bộ của Ả Đặng đấy.” Nói tới đây nàng nở một nụ cười rất tươi.

          “Vậy thì cậu là đại công chúa rồi còn gì!” Thằng Hùng nói. “Không ngờ gia đình cậu cao quý dường vậy.”

          Ả Đặng tươi cười nói: “Gia tộc họ Bạch nhà Ả Đặng không chỉ là gia tộc cao quý nhất trong bản này, mà còn trong toàn thể cộng đồng người Mường trên khắp đất nước, và rộng hơn là khắp nơi trên thế giới.”

          “Woa!” Thằng Sang trợn mắt thốt lên. “Dữ dội đến vậy ư!”

          Tôi cũng rất kinh ngạc khi nghe Ả Đặng nói vậy, những tưởng nhà nàng ta cũng như là một phú gia trong bản thôi, không ngờ lại có ảnh hưởng lớn thế. Theo như nàng nói thì rõ ràng giữa những cộng đồng người Mường khắp nơi có mối liên hệ rất mật thiết với nhau.

          Nàng nói tiếp: “Nhưng quyền lực theo cách nghĩ của người Mường hoàn toàn khác với của người Kinh các cậu. Người Kinh thường hiểu quyền lực tức là muốn làm cái gì thì làm, những người có quyền thì tiền bạc chẳng rõ từ đâu mà cứ chất đầy trong nhà lẫn trong ngân hàng, và thường thì bọn họ chẳng được ai thật sự kính trọng vì quyền lực hay đi kèm với xấu xa. Hoặc nếu người ta có kính trọng thì cũng chỉ là vì những người đó có quyền làm cái nọ làm cái kia, và có nhiều tiền, mà tiền thì có thể làm được nhiều thứ, chứ bản chất con người của họ thì ai cũng phải ghét. Họ hay ỷ vào quyền thế mà khinh thường, ức hiếp kẻ khác. Nhưng trong người Mường thì hoàn toàn khác, dân Mường không bao giờ lạm dụng quyền lực mà mình có, cũng không sử dụng nó một cách ích kỉ, lại càng không vì nó mà coi mình có giá trị hơn mọi người. Người có quyền trong bản cũng đều phải lao động như tất cả mọi người. Cho nên họ rất được dân kính trọng, kính trọng chính con người họ chứ không phải là kính trọng quyền lực mà họ có. Dân Mường không phải đóng một khoản tiền nào cho những người có quyền cả, nhưng họ tự nguyện dâng tặng mà thôi. Những gì mà nhà Ả Đặng có phần nhiều là truyền từ các đời trước lại, phần khác là do lao động, và chỉ một phần nhỏ là nhận của dâng tặng của dân trong bản.”

          Mấy đứa chúng tôi gật gật đầu, nghe những lời nàng nói mà thầm cảm thấy xấu hổ cho người miền xuôi.

          Tôi chỉ vào ba căn nhà còn lại trong dãy hỏi: “Vậy ba căn nhà còn lại này là của những ai?”

          Nàng cười đáp: “À, căn nhà sát nhà Ả Đặng là của Thầy giáo. Bản của Ả Đặng rất đặc biệt vì có một thầy giáo đảm nhận dạy dỗ cho mọi người trong bản, nhất là trẻ em. Vì trường học cách đây rất xa, và người trong bản cũng không thích giao du với bên ngoài mà Tộc trưởng thì lại không muốn để dân mù chữ, dân dốt, cho nên mới định ra chức Thầy giáo này, chọn người thông minh tài giỏi nhất của bản cho làm. Ngày trước chính quyền cũng có cử người lên bản vận động để cho con em đi học, cha của Ả Đặng cũng trình bày sự tình như thế, họ bèn chấp nhận cho bản tự giáo dục trẻ em cho đến hết lớp năm. Từ lớp sáu trở đi thì những đứa trẻ nào muốn học tiếp thì phải gửi xuống các trường học chính quy, chính quyền sẽ giúp đỡ việc đó. Ả Đặng xuống thành phố học cũng là theo diện đó đấy.”

          Chúng tôi nghe vậy lại cùng nhau gật đầu tỏ ý đã hiểu ra sự tình. Ả Đặng đang định nói tiếp căn nhà khác thì nghe có tiếng gọi, mế của nàng ta đã đến từ lúc nào: “Bộ cho gọi con với mấy đứa vào.”

          Chúng tôi biết đã đến lúc vào chào Già làng nên bèn lục tục đứng dậy nối đuôi nhau đi vào trong nhà, cố gắng tỏ ra nghiêm túc hết sức có thể. Tôi thậm chí còn phải dặn dò thằng Sang là đừng có phát biểu lung tung kẻo bị đuổi về thì rõ xấu mặt. Bên trong nhà cha của Ả Đặng đã thay quần áo mới, tinh tươm hơn. Tuy không biết trang phục của người Mường quy cách ra sao nhưng tôi cũng cảm thấy rằng bộ đồ ông đang mặc không phải bình thường, mà kiểu như quần áo mới chỉ dùng trong những dịp đặc biệt như bộ đồ mà tôi chỉ được mặc nếu có đi dự đám cưới. Chiếc áo màu đỏ tía của ông may bằng một loại vải nhìn cũng có thể thấy là rất mượt mà, trông kiểu dáng gần giống như áo bà ba nhưng hình như lại hơi rộng, nút cái dọc phía trước, lại có cổ. Quần thì rộng, cùng tông màu với áo và xuôi xuống tới mắt cá chân. Trái với thắt lưng bản rộng của mế Ả Đặng có nhiều họa tiết và màu sắc sặc sỡ, thắt lưng của ông đặc một màu vàng nổi bật với màu áo, thắt nút ở bên hông, hai cái tà buông xuôi xuống tới đầu gối. Đầu ông cuốn khăn màu vàng, thoạt nhìn khiến tôi liên tưởng đến chú Cuội, nhưng rõ ràng cái khăn ấy sang trọng và quý phái hơn nhiều. Trên cổ ông còn đeo một sợi dây chuyền rất lớn có mặt là một cái nanh không rõ của con gì nhưng to lắm, trông rất oai vệ. Đó là ngoại hình mà tôi ghi nhận được ở ông. Toàn thể thân hình ông toát lên một vẻ cương nghị, oai nghiêm cần có của một người lãnh đạo.

          Lại một lần nữa nụ cười của ông làm dịu đi cái vẻ ngoài rắn rỏi ấy, ông đứng dậy cúi người mời chúng tôi ngồi một cách rất khách sáo, gọi là rất lễ nghi thì đúng hơn, cứ như thể chúng tôi là những vị khách rất cao quý. Đương nhiên điều đó khiến chúng tôi bối rối, bèn vội cúi người vâng vâng dạ dạ luôn mồm rồi ngồi xuống uống trà, nói đôi ba câu chuyện với ông. Ả Đặng không ngồi chung nhưng đứng hầu sau lưng cha. Cuối cùng ông nói: “Giờ ta mời các cháu vào ra mắt Già làng, các cháu đi theo ta.”

          Vâng dạ xong chúng tôi lại lục tục đứng dậy theo sau ông đi vào nhà trong. Bên trong hóa ra là một hành lang dài. Cuối hành lang lại có cầu thang dẫn xuống một căn phòng lớn dưới tầng hầm. Trong gian phòng rộng một đống lửa lớn cháy bập bùng hắt ánh sáng lên những bức tường. Trước đống lửa là một tấm phản, trên đó tôi nhận ra ngay có một cụ già tóc đã bạc như cước ngồi. Tất cả đều hiểu đó là Già làng. Nhìn kỹ hơn thì thấy trang phục của cụ đại khái cũng giống cha của Ả Đặng, cũng áo xẻ tà, quần rộng, chít khăn, đeo vòng cổ. Cụ đã già lắm, bằng chứng là dáng người gầy gò, nước da nhăn tít lại như quần áo nhàu nát, chỉ riêng đôi mắt là hẵng còn sáng. Đôi mắt ấy hơi nhướn lên khi thấy chúng tôi xuất hiện, kèm theo một cái gật đầu khe khẽ không hiểu vì lí do gì. Cha của Ả Đặng tiến đến trước Già làng nói: “Con dẫn khách đến chào bộ đây.”

          Tiếp đến Ả Đặng đon đả chạy đến ngồi cạnh cụ già, ôm tay cụ ra chiều rất thân thiện.

          “Cái Ả của nội về rồi nè. Nội có nhớ cái Ả không?”

         Cụ già nở một nụ cười rạng rỡ khiến cụ phải trẻ ra đến gần hai chục tuổi là ít để đáp lại câu nói của cô cháu nội. “Mày về lúc nào, đi học thành phố có khó không, có nhớ tao với bản làng không?” Giọng nói của cụ tuy khàn đục nhưng tiếng nào ra tiếng ấy, không có lè nhè như nhiều cụ già cao niên khác.

          “Cái Ả tất nhiên là nhớ nội rồi.” Ả Đặng tươi cười đáp. “Nội xem, cái Ả dẫn bạn về để thăm nội nữa này. Chắc nội cũng đã đoán ra rồi đúng không?”

          Cụ già cười cười gật đầu, và nụ cười ấy biến mất khi cụ quay sang nhìn bọn tôi. Chằng hiểu sao tôi có cảm giác là sau khi nhìn cả bốn đứa rồi thì cụ lại chăm chú đến tôi hơn cả. Sau cùng cụ vẫy tay bảo bọn tôi cùng ngồi lên phản. Bọn tôi ngoan ngoãn làm theo, chưa đứa nào dám mở mồm nói gì cả. Ai cũng cảm thấy nơi đây có vẻ hơi “tâm linh” theo một nghĩa nào đó, đại khái người thành phố như chúng tôi chưa bao giờ đến những nơi thế này, nên cách ứng xử đương nhiên là không biết.

          “Mấy con là bạn học của cái Ả nhà ta phải không?” Cụ cất tiếng hỏi, giọng điệu có phần thân thiện nên khiến chúng tôi thoải mái hơn rất nhiều.

          Lớp phó Thủy Ngân đại diện cúi đầu lễ phép hết sức đáp: “Dạ vâng thưa ông! Bọn cháu về đây nghỉ hè.” Nói tới đó nàng ta định ngừng, nhưng nghĩ ngợi sao lại tiếp. “Mong là không làm phiền ông với mọi người.”

          Già làng bật tiếng cười vang xua hẳn đi sự ngượng ngùng của chúng tôi: “Không phiền, không phiền! Mấy đứa cứ ở chơi bao lâu tùy thích. Hiếm khi bản ta lại có dịp tiếp khách thành phố. Nhưng còn cậu này, cậu tên gì nhỉ.” Cụ chỉ đích mặt tôi mà hỏi khiến tôi giật bắn cả người.

          “Dạ con tên Nam thưa ông!” Tôi ngoan ngoãn đáp.

          Cụ gật đầu như thể có một ý tưởng gì đó vừa lòng lắm. “Ừ! Tốt lắm. Mặc dù mấy đứa là khách đến chơi bản, nhưng chắc hẳn cái Ả nhà ta cũng có nói với cậu và mấy đứa sự tình rồi chứ.”

          Tôi hiểu cái sự tình mà cụ nhắc tới nên bèn gật đầu đáp: “Dạ vâng thưa ông, bọn con hiểu ạ!”

          Cụ lại gật đầu nói: “Tốt lắm. Ngày mai con trai ta và cái Ả sẽ dẫn mấy đứa đi gặp Quan lang sống trong núi. Ta cầu chúc cho các con những điều tốt đẹp.”

            Sau những lời ấy thì cuộc gặp mặt kết thúc. Chúng tôi lại kéo ra ban công ngồi, tựa như vừa từ trong một thế giới khác bước ra vậy.