Chương 5. Đôi mắt hình nụ cười ngược.

Like & Share:

    Ủa, mà sao tôi đã chạy rồi mà tiếng nhạc vẫn lớn quá vậy? Tôi bực mình xoay người, cố chạy cho tiếng nhạc khỏi vọng tới mới giật mình thức giấc. Giấc mơ thực quá, một phần là vì nhà nào đó đang mở nhạc xập xình nghe muốn nổ lỗ tai luôn. Tôi càu nhàu vài câu, dụi dụi mắt cho tỉnh ngủ. Biết chẳng thể cố kéo dài giấc mộng, tôi ngồi thẳng dậy, đến bên gương chải lại tóc rồi xuống dưới nhà.

     Khổ nỗi vừa xuống nhà thì hàng xóm tắt nhạc. Chẳng hiểu sao trưa trờ trưa trật lại bật nhạc ầm ĩ thế. Thế mà lúc xuống nhà tôi chẳng thấy ai cả, có lẽ cả nhà đang ngủ, trừ thằng Long vì nó phải đi học thêm. Tôi nhớ mình của những năm cấp hai và cấp ba, quanh năm suốt tháng chỉ có chạy đôn chạy đáo đi học thêm. Quá mệt mỏi, lại gặp nhiều chuyện không vui, hè năm lớp mười một tôi mới nằng nặc đòi về quê để đổi không khí, chuẩn bị tinh thần cho năm lớp mười hai ôn thi đầy căng thẳng. Tôi cũng không dám ra ngoài vườn, sợ con chim khướu thấy tôi lại rú lên “Có khách” hoặc “Cút đi”, cả nhà giật mình dậy thì khổ.

     Tôi đang ngồi thơ thẩn ở bàn nước thì thằng Cường từ ngoài cổng đi vào. Con chim gào lên “Xin chào… Xin chào” rồi sau đó lông xù lên như bị mèo vần. Thì ra nó còn biết “Xin chào” nữa, có khi cả “Tạm biệt” cũng nên. Lúc này tôi mới nhớ ra, lúc nãy loa to thế mà không ai dậy nữa là tiếng “hót” yếu ớt hơn nhiều của một con chim. Thằng Cường ăn vận chỉnh tề phải biết, áo sơ mi quần âu đóng hộp, tóc vuốt keo dựng ngược, trông bảnh trai khác hẳn ban sáng. Chỉ tội thằng bé vẫn đi đôi dép tổ ong màu xanh tím than, nhìn chẳng ăn nhập gì cả.

     Thằng Cường thấy tôi thì ngạc nhiên hỏi:

     – Chị không đi ngủ ạ?

     Tôi nhăn nhó, chỉ chỉ sang nhà hàng xóm, chắc nó hiểu nên nhe răng cười.

     – Cái nhà đó kì lắm, cứ trưa lại bật loa, nói là học lối sống của phố. Mới đầu ai cũng phản đối, nhưng rồi cũng quen, loa to đến đâu cũng ngủ được.

Nó bước vào nhà, không biết nghĩ gì lại nói tiếp:

      – Hôm nào chị sang bên đó nói cho họ biết lối sống thành phố là thế nào đi, để họ đừng phiền hàng xóm láng giềng.

     Tôi cười trừ, lối sống của thành phố á? Tôi cũng chẳng biết, vì tầm đấy tôi còn mải ngủ.

     – Mà em đi đâu về thế? – Tự dung tôi nhớ ra bộ dạng kì lạ của Cường.

    – Em ấy à, em đi gặp em dâu tương lai của chị đấy! – Thằng bé cười thấy ghét.

     – Sao phải đi tầm trưa nắng vỡ đầu thế? Đi ban sáng hay tối có phải lãng mạn hơn không?

     – Trời, ban ngày còn đủ thứ việc để làm, người ấy của em mấy ngày nghỉ đi làm phục vụ ở quán nước, trưa mới rảnh mà gặp nhau đó chị! – Thằng Cường trề môi, nói như thể cả thế giới này thì tôi là người rảnh nhất vậy.

     – Ơ, thế sao cậu nói em đi làm thêm mà? Sao hôm nay có phải ngày nghỉ đâu mà ở nhà thế?

     – Thì nghe tin chị về, em xin nghỉ hẳn một buổi, mai đi làm tiếp! Bố em còn tính nghỉ để ra tận bến xe đón chị cơ, nhưng mà chị không ưng nên tất tả từ công trường ra cổng làng đón chị, sợ chị lạc đấy!

     Tôi cảm kích vô cùng. Quả là mọi người dành tình cảm cho tôi quá lớn. Dù cho tôi rất hiếm hoi về quê, dù cho tôi chẳng làm được gì giúp đỡ họ, nhưng họ vẫn luôn nồng nhiệt chào đón tôi như một thành viên thực thụ trong gia đình.

    – À Cường này! – Thấy Cường chuẩn bị bước về phòng, tôi gọi. Cường tò mò nhìn tôi. – Nhìn gì, ra đây chị hỏi tí!

     Thằng bé làu bàu gì đó nhưng cũng lại bàn nước ngồi đối diện với tôi. Nhìn bộ dạng nghiêm túc như chuẩn bị phát biểu một định luật vĩ đại nào lắm của tôi, thằng Cường có vẻ cảnh giác.

    – Chú Năm nhà cuối ngõ vì sao đi tù thế?

     Thằng Cường trố mắt nhìn tôi:

     – Không phải chị rõ nhất sao? Rõ ràng lúc đó là chị nằng nặc đòi…

    – Thôi được rồi được rồi, hiểu rồi! – Tôi đưa tay cản nó lại – Thế… bé Út, con gái chú Năm đâu?

     Thằng Cường lúc này lại có vẻ đăm chiêu. Mãi sau nó mới lên tiếng:

    – Hình như bà bảo em khi nào dẫn chị đi đâu đó, nhưng hôm nay tuy em rảnh nhưng em lại mệt rồi, để hôm khác, nhá!

     Thằng bé quày quả đi vào nhà trong, vừa đi vừa cởi áo sơ mi khoác lên vai, mặc kệ tôi gọi, nó nhất quyết không quay đầu lại. Tôi còn nghe nó sập cửa một phát đinh tai nhức óc nữa. Cái đồ vô trách nhiệm.

    Mà chẳng hiểu sao ai nấy đều úp mở về câu hỏi của tôi thế nhỉ? Có điều gì khó nói sao? Có lẽ chiều nay tôi phải hỏi bà thật kĩ mới được.

     Tôi cứ ôm dấu chấm hỏi to đùng lên trên phòng. Chiếc hộp vẫn nằm ngay ngắn trên bàn. Tôi bỗng chợt nghĩ, Út đã chuyển đi rồi, giờ chỉ còn tôi với chiếc hộp bí mật đầy ắp hoài niệm này, tôi có nên mở ra không? Mà không được, nhất định phải đợi Út trở về.

     Tôi ngả lưng xuống giường, bắt đầu suy nghĩ vẩn vơ. Kì lạ thật, mảnh đất này vẫn là chính nó, chỉ là những thứ bề nổi bên trên có phần khác đi, vậy mà tôi lại có cảm giác mình như lạc đến một vùng đất khác. Và lại kì lạ thật, vẫn là mùa hè, vẫn là những ngày nắng cháy, vẫn là những người thân thương, nhưng rõ ràng chẳng phải là mùa hè năm nào nữa rồi…

 

↔↔↔↔↔

 

     Tối đó, thằng Cường nằng nặc rủ tôi ra nhà văn hóa để tổ chức sinh hoạt hè cho lũ trẻ. Tôi chẳng muốn đi chút nào. Ngày trước khi tôi còn học cấp một, cấp hai đã từng bị bắt ép đến trường tập sinh hoạt hè, cụ thể là tập một bài thể dục nhịp điệu, một bài dân vũ, một bài múa trong cái nắng và nóng hừng hực của mùa hè. Tình trạng của tôi mỗi khi về tới nhà là mồ hôi mẹ mồ hôi con ướt đẫm tóc và áo, cổ khát khô và người thì rã rời. Nhưng thằng Cường cứ khăng khăng rằng sinh hoạt hè ở quê vui hơn nhiều, vì đâu có bắt ép phải đi thi này thi kia như ở chỗ tôi. Lại thêm cậu trong bữa ăn đùa rằng tôi định thi Sư phạm thì phải tập làm cô giáo tương lai đi chứ.

    Hồi đấy thì cả hai thằng còn lêu lổng lắm, mợ vẫn là người rửa bát chính. Tôi phụ mợ dọn mâm thì thằng Cường đã dẫn thằng Long tót đi mất với lí do cao cả là đến chuẩn bị. Tôi rửa bát cùng mợ xong xuôi mới lên phòng, chọn một bộ đồ ra dáng “cô giáo tương lai nhất” rồi mới lững thững đi ra. Tôi còn nhớ trăng hôm đó rất sáng, sáng như một chiếc đĩa bạc ai treo lơ lửng trên nền trời vậy. Ra tới đầu ngõ, tôi suýt thì đứng tim vì thấy một dáng hình bé nhỏ đứng dưới ngọn đèn đường ở ngay đầu ngõ. Cô bé có mái tóc dài nhưng rối, bộ quần áo cũ kĩ, người gầy gò. Là cô bé có giọng hát hay!

     Cô bé đứng cúi mặt, gần như bất động. Tới gần, tôi mới thấy đôi vai cô bé run run. Ngọn đèn đường vàng vọt chỉ soi sáng nổi một khoảng dưới chân nó nhưng cũng đủ để làm lóe lên những giọt nước mắt của cô bé đang tí tách rơi.

     Một cô bé vào lúc tối như vậy đứng khóc ở dưới ngọn đèn đường chắc chắn là có chuyện gì đó rồi. Nhẹ thì xích mích với bố mẹ, điều này cần có người hòa giải. Nặng thì tôi chưa nghĩ ra, nhưng cũng cần có người giúp đỡ. Kể từ ngày một nửa thanh xuân của tôi tan biến vĩnh viễn, tôi chợt trở nên nhạy cảm với nỗi đau và những giọt nước mắt. Hốt hoảng ngồi thụp xuống, tôi nắm lấy hai vai cô bé, hỏi dồn dập:

    – Bé ơi, bé làm sao vậy?

     Cô bé hơi ngẩng mặt lên theo một cách rất kì lạ, dường như là hướng một bên mặt lên thôi. Dù gương mặt cô bé giàn giụa nước, tôi vẫn thảng thốt nhận ra…

     Đôi mắt của cô bé ấy cong cong hình nụ cười ngược, không thể mở to như bình thường. Trong đôi mắt ấy gần như chỉ thấy toàn một màu trắng đục.

     Một cô bé khiếm thị!

     Cô bé không trả lời mà chỉ khóc thôi càng khiến tôi lo lắng. Rồi bất chợt, cô bé ôm chầm lấy tôi, giọng nói lanh lảnh vang lên cứa vào màn đêm nghe đến xé lòng:

     – Mẹ!

     Tôi định lên tiếng phân trần mình không phải mẹ cô bé nhưng rồi lại thôi. Cô bé khiếm thị đáng thương đang cô đơn đến mức nào, sợ hãi đến mức nào mới ôm một người qua đường chứ! Tôi cũng dang tay ôm lấy cô bé, vỗ nhẹ vào lưng em để dỗ em nín khóc.

     Rất lâu sau, tiếng góc của em mới nhỏ dần, chỉ còn lại những tiếng nấc nghẹn. Cô bé buông tôi ra, tự đưa tay lên lau mặt, thì thầm khe khẽ:

     – Con xin lỗi cô!

     Thì ra cô bé vốn biết tôi không phải mẹ cô bé, nhưng có lẽ vì một phút sợ hãi hay buồn bã, hoặc cũng có thể là quá nhớ mẹ, cô bé đã hét lên như vậy.

     Tôi vẫn còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra thì cô bé lại nói tiếp, lần này rõ ràng và rành mạch hơn:

     – Con xin lỗi cô, cô đang bận mà con lại làm phiền cô!

     Một cô bé thật lễ phép! Đồng thời lúc này tôi cũng nhớ ra việc thằng Cường bảo tôi đến nhà văn hóa, nhưng bây giờ tôi lưu tâm đến cô bé này hơn.

     – Không sao đâu bé. Vậy nhà bé ở đâu để chị đưa bé về nhé!

     Nói thế chứ tôi đoán chắc ngôi nhà với giàn hoa giấy ở cuối ngõ kia là nhà cô bé rồi. Không ngờ em lại gắt lên:

     – Không cần! Cô đi đi!

     Dường như tôi đã bị cô bé này dẫn từ sự giật mình này qua sự giật mình khác. Gương mặt của em hơi giật giật, thoáng qua một nét đau đớn. Tôi nhìn sâu vào gương mặt em, có lẽ em có một bí mật nào đó không muốn nói cho người khác chăng?

     Một đứa trẻ cũng cần có sự tôn trọng, nhất là với những điều chúng không muốn nói. Tôi cũng là một đứa trẻ, nên tôi quá hiểu điều đó đi chứ. Tôi gật gù:

    – Ừ, vậy chị đi nhé!

    Tôi giả vờ bước một hai bước rồi đứng lại, thấy em vẫn im lìm như một pho tượng tạc vào không gian. Hồi lâu, cô bé lên tiếng:

     – Cô chưa đi sao?

     Tôi tròn mắt ngạc nhiên. Cô bé biết sao? Mãi về sau, tôi mới tìm hiểu được rằng những người khiếm thị dùng tâm hồn và đôi tai để làm một đôi mắt khác của mình. Chỉ cần nghe tiếng bước chân là em cũng biết tôi đã đi thật hay chưa. Vả lại, chẳng hiểu sao dù tôi đã xưng “chị” mấy lần rồi mà cô bé ấy vẫn cứ luôn miệng gọi tôi là “cô”.

    – À, chị đi thật đây!

     Tôi dở khóc dở cười, lần này đi thẳng về phía cổng nhà văn hóa. Đến trước cổng rồi, tôi quay người nhìn lại. Cô bé lúc này mới dè dặt bước đi. Chỗ lối rẽ cô bé đi, tôi dõi theo mà tim muốn nhảy ra ngoài lồng ngực. Nhưng cô bé đi rất chuẩn, tuy hơi liêu xiêu một chút. Cho đến tận khi bóng cô bé cũng mất hút hẳn, tôi mới đi vào trong nhà văn hóa.

      Trên phần mái lợp hiên của nhà văn hóa có treo một cái bóng đèn vàng cam. Thằng Cường và mấy người khác có vẻ bằng tuổi nó đang tổ chức cho một đám trẻ đứa cao đứa thấp, lứa tuổi chắc rơi vào khoảng từ mầm non đến cấp hai, chơi một trò chơi. Là trò “Quản trò cần”. Luật chơi đơn giản, chia đám trẻ lố nhố bên dưới thành ba đội, mỗi đội cử ra một đứa chuyên “giao đồ”, phía trên hiên đặt ba chiếc ghế nhựa đỏ. Một người trong đám thằng Cường làm quản trò, khi người đó hô “Quản trò cần” thì lũ trẻ bên dưới đồng thanh “Cần gì cần gì?”. Người quản trò đáp “Cần…” thì đứa trẻ được cử ra sẽ nhanh chóng tìm thứ đó trong đám đồng đội của mình, đến khi thấy thì chạy lên đặt vào ghế. Đội nào đặt đồ nhanh nhất sẽ thắng. Để thắng được trò này không những cần người giao đồ nhanh nhạy mà còn cần cả đội hợp sức tìm ra món đồ nhanh nhất.

    Một bạn nữ dáng người hơi đậm, mặc chiếc áo hoa màu đỏ đang làm quản trò. Bạn nữ hô: “Quản trò cần”, lập tức đám trẻ hét muốn long trời: “Cần gì cần gì?”. Bạn nữ cũng rất “không phải dạng vừa”, hô lên “Cần một bạn đẹp trai”. Cả ba đội đều xôn xao, có một đội không bàn bạc nhiều lắm đã lôi ngay một thằng nhóc chắc chỉ cấp một là cùng, mặt mày trắng trẻo dễ nhìn lên. Một đội khác thì tranh cãi mãi không được, thằng nhóc “giao đồ” nhắm mắt nhắm mũi ngồi luôn lên ghế mặc cho đồng đội phản đối. Còn đội còn lại tranh cãi mãi cho đến lúc hết giờ vẫn chưa xong.

     Thấy tôi, thằng Cường vội chạy lại, tuôn ra một tràng trách móc mà tôi chẳng để vào đầu từ nào. Vừa lúc ấy, trò chơi kết thúc, thằng Cường kéo tôi ra trước hiên. Tôi mắc cỡ muốn chết, biết bao nhiêu con mắt đang nhìn chằm chằm vào mình. Câu tôi nghe nhiều nhất có lẽ là “Chị ấy trắng ghê”.

    Một thằng nhóc tài lanh nào đó từ phía dưới hét vọng lên:

    – Người yêu anh Cường đấy ạ?

     Lập tức cả bọn trẻ con ồ lên vỗ tay. Sao cái cảnh này tôi thấy giống trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân thế không biết. Cái bọn trẻ con thời nào cũng thế, cứ thấy trai gái đi với nhau là lại ghép đôi, “chông vợ hài”.

    Thằng Cường gãi đầu gãi tai, phân bua:

     – Không phải, đây là chị họ của anh!

    Một thằng nhóc khác được thể hô lên:

     – Không phải người yêu anh thì anh giới thiệu cho em đi!

     Thằng bé này thì tôi nhận ra, nó là thằng vừa tự ngồi vào ghế khi quản trò nói cần một bạn đẹp trai đây mà. Cái thằng nhóc tài lanh này! Tôi làm sao mà để bọn trẻ con bắt nạt được, bèn lên tiếng:

     – Có gì em nói thẳng với chị nè, sao phải nhờ anh Cường giới thiệu!

     Lũ trẻ cười ồ. Tôi cũng cười. Mấy bạn đứng cạnh Cường chào tôi, giới thiệu là bạn cùng lớp của Cường, đều trong ban chấp hành Đoàn trường. Tôi thầm cảm thán, ở làng quê này hoạt động Đoàn thật thiết thực, chứ ở trường tôi chỉ toàn ghi sổ, tham gia vài tiết mục văn nghệ, nói chung là chỉ bao hàm trong trường chứ không liên quan đến xã hội nhiều lắm.

     – Chị xinh gái này tên là Hoàng Anh. Chị ấy từ trên thành phố xuống. Các em có gì tò mò về “thành phố” thì cứ hỏi chị ấy nhé!

    Thế là buổi sinh hoạt hè biến thành buổi tọa đàm. Chẳng hiểu sao lũ trẻ ở đây lại tò mò về cuộc sống thành phố thế. Chúng thích những công viên, những tiệm đồ ăn nhanh, thích hiệu sách, thích trường học, thích mọi thứ ở nơi tôi sống. Tôi lè lưỡi, nói chúng xa quê lên phố chỉ tầm hai, ba tháng là chán thôi. Toàn khói bụi, người người vội vã, không khí trong lành ở làng quê vẫn thích hơn nhiều.

     Gần chín giờ tối, cả đám mới lục đục ra về. Tôi hứa hôm sau sẽ dạy lũ trẻ một bài nhảy mà trước tôi cùng các bạn tập luyện để thi văn nghệ. Đám trẻ hào hứng lắm vì với chúng, nhảy hiện đại là một từ quá xa lạ. Tôi cũng hết sức vui vẻ vì đã lâu lắm rồi chưa được trải lòng như bữa nay.

     Lúc gần về đến nhà, tôi mới chợt nhớ ra:

     – Cường này, cái nhà ở cuối ngõ mà có giàn hoa giấy ý, có phải có một đứa bé bị khiếm thị không?

Thằng Cường ngẩn người một lúc mới nhớ ra. Nó đáp:

     – À đúng rồi, mọi người hay gọi cô bé đó là Út, cũng chẳng rõ tên thật là gì nữa.

     – Cô bé đó bị khiếm thị bẩm sinh à?

     – Không chị, hình như đến năm năm tuổi cô bé bị tai nạn sao đó rồi mới bị như vậy.

     – Vậy chứ người nhà có tìm cách chữa chạy không?

     – Có, mẹ Út đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan để kiếm tiền chữa cho Út. Còn bố Út là chú Năm ở nhà chăm con, nhưng đúng ra ông ta suốt ngày rượu chè, chẳng được việc gì!

     – Vậy chứ… cô bé sống kiểu gì?

     – Thì phải cố thôi chị. Mà kể cũng giỏi, cô bé có thể tự đi quanh làng mà không cần ai chỉ. Nhưng em nghe ai đó nói, Út không bị mù mà vẫn nhìn rõ một chút, nghĩa là phân biệt được sáng tối, hình dạng sao đó. Chỉ là không thấy sắc màu, đường nét như chúng ta mà thôi!

    Tôi gật gù. Cô bé này thật nghị lực. Nếu ở chỗ tôi, nhất định sẽ có các nhà hảo tâm đến giúp đỡ cô bé.

     – Thế cô bé bao nhiêu tuổi rồi?

     – Kém thằng Long hai tuổi, giờ là chín tuổi đó chị.

     – Vậy cô bé có được đi học không?

     – Làm sao mà được hả chị! Ở cái làng quê này lấy đâu ra trường cho người khiếm thị chứ. Cô bé còn chẳng có bạn nữa là, toàn lủi thủi một mình.