Chương 4: Lên đường

Like & Share:

Kể từ sau buổi “hẹn hò” ấy tâm trí tôi cứ quanh quẩn với những ý nghĩ về thế giới cổ đại, tôi hăng say tìm các tài liệu lịch sử viết về thời sơ khai Việt Nam để đọc, nhưng tuyệt nhiên chẳng có một cuốn nào chứa đựng dù chỉ một mẩu nhỏ những chi tiết về câu chuyện của Ả Đặng, cũng không đề cập một dòng nào đến dòng dõi Quan lang. Tất cả những gì viết về thời An Dương Vương gần như chỉ là câu chuyện Mị Châu  – Trọng Thủy đượm màu huyền thoại, thật khó mà tin được. Ngoài ra chỉ còn là những nghiên cứu, những suy đoán của các vị học giả dựa vào những ghi chép vụn vặt góp nhặt được từ các tài liệu nước ngoài nói về thời ấy. Tôi chợt nhận ra rằng bức màn lịch sử thời kì đầu dựng nước của dân tộc tôi hãy còn bí mật lắm, nếu thật sự nhà Ả Đặng có tới bốn mươi chín quyển sách viết về thời đại này thì rõ ràng đấy là một tài liệu vô giá và có ý nghĩa cực lớn, lớn đến mức tôi không hình dung được là lớn tới thế nào, đại khái là rất lớn. Tôi cũng nôn nóng muốn được biết rốt cuộc trong những cuốn sách ấy viết gì, giai đoạn lịch sử bí ẩn ấy có gì.

          Nhưng là một học sinh tôi vẫn phải tập trung hơn vào việc học, nhất là kì thi cuối năm đang đến gần, bài vở ụp lên đầu như thác lũ khiến tôi phải tạm gác những nỗi tò mò cao thượng kia lại mà tập trung bảo toàn cái danh hiệu học sinh giỏi mà mẹ tôi rất lấy làm hãnh diện kia. Ả Đặng từ sau lần đó cũng không nhắc lại gì với tôi nữa cả, nàng vẫn lên lớp đều đặn và đối xử với tôi cũng y như với tất cả những người khác, làm như giữa chúng tôi chẳng có chuyện gì cả.

          Kỳ thi kết thúc cũng là lúc những bí ẩn lịch sử quay trở lại với đầu óc của tôi. Tôi tưởng tượng về chuyến đi sắp tới lên vùng Tây Nguyên, không rõ nó sẽ bắt đầu thế nào và kết thúc ra sao. Tôi cũng nghĩ đến việc rủ thêm vài đứa bạn thân, có thằng Sang và thằng Hùng, ba chúng tôi là một bộ với nhau, trước giờ không bao giờ đi đâu mà thiếu mất đứa nào, nhất là trong những chuyến đi xa. Nhưng cái khó là không biết phải nói sao với chúng về chuyện này để chúng không bảo là tôi bị điên mới đi nghe lời Ả Đặng. Bọn chúng không được xem cuốn sách mà tôi xem, không được nghe những lời mà tôi nghe, nên khó mà bắt chúng có cùng suy nghĩ với tôi được. Nhưng chắc chắn là chúng chẳng bao giờ từ chối một cơ hội hấp dẫn để được lên Tây Nguyên đâu, tôi biết rõ chúng mà. Vậy tôi chọn cách rủ thông thường để lôi chúng đi cùng tôi, rồi từ từ mới cho chúng biết lí do thật sự.

          “Mày bảo sao! Ả Đặng rủ bọn mình về nhà nó chơi á?” Thằng Hùng vô cùng kinh ngạc khi tôi nói với nó như thế. “Hai đứa mày chơi với nhau à, tao có bao giờ thấy nó nhìn tao đâu mà mày bảo là nó muốn rủ bọn mình. Lẽ ra nó phải rủ lũ con gái mới đúng chứ.”

          Thằng Hùng là đứa có cái mỏ nhọn được ví ngang ngửa với mỏ Xekô mặc dù nó không bao giờ chấp nhận chuyện đó, nhưng một đặc điểm khác còn khiến nó giống nhân vật này hơn là cái tật lắm mồm đến nỗi có nhiều lúc tôi chỉ muốn binh vào mỏ nó một cái cho im miệng đi. Nhưng nói gì thì nói nó vẫn là đứa bạn thân và là đứa bạn tốt nhất mà tôi có, nó chẳng ngại giúp đỡ người khác bất cứ chuyện gì có thể giúp được và không bao giờ kêu ca, thật là hào hiệp.

          “Mày nói thật đi, lén lút qua lại với nó mà giấu bọn tao phải không.” Nó tiếp tục tra hỏi tôi. “Giấu hơi bị giỏi đấy, tao không hề nghi ngờ mày tí nào. Khó tin thật.”

          “Vậy giờ mày có đi không thì bảo.” Tôi tránh né mấy lời kết tội của nó. “Đi thì đi, không đi thì ở nhà, sao mà lắm chuyện vậy.”

          “Đi thì… tất nhiên là đi rồi, nhưng cũng phải tìm hiểu tí chứ.” Thằng Sang đáp thay thằng Hùng, nó đang lấy tay gãi gãi cằm ra vẻ đang xem xét gì đó. “Tây Nguyên cũng khá hấp dẫn đấy. Trước giờ bọn mình toàn đi biển, năm nay đổi gió lên núi xem sao. Chỉ sợ lên đấy bị người ta đè ra làm thịt tế thần thì chết.”

          Ăn uống luôn là một đề tài không bao giờ rời khỏi tâm trí và cái miệng của thằng Sang, được mệnh danh là anh hai của Chaien này. Với cái bụng ục ịch và cái miệng dẻo dai, nó có thể ăn bất cứ thứ gì và bất cứ lúc nào. Không có món gì là không hợp khẩu vị của nó cũng như không có thời điểm nào là thời điểm ăn kiêng cả. Nó quen một con bé đanh đá nhưng cùng sở thích với mình, và lúc ăn uống là thời gian duy nhất hai đứa nó hòa thuận và đồng cảm với nhau, ngoài ra thì đụng cái là cãi vã, đến nỗi chẳng rõ có thể gọi hai đứa là người yêu được không.

          “Vậy thời điểm cụ thể thế nào?” Thằng Sang lại hỏi tiếp.

          “Để tao hỏi rõ Ả Đặng đã,” tôi đáp, “nhưng chắc nghỉ phát là đi luôn đấy. Tụi mày xin phép từ bây giờ là được rồi. Có thể đây sẽ là chuyến đi dài, có khi cả tháng cũng nên.”

          “Cả tháng cơ à!” Thằng Hùng trợn mắt lên. “Nếu vậy thì cần phải có một lí do to tát hơn là đi nghỉ hè.”

          “Còn có lí do gì hay hơn nữa chứ.” Thằng Sang nói. “Mày đi khỏi nhà được ngày nào thì ba mẹ mày mừng ngày ấy, có cái gì mà sợ khó xin chứ.”

          “Mày nói nghe hay nhỉ!” Thằng Hùng cự lại. “Thế thì để xem mày xin xỏ ra làm sao. Đi một tháng không phải chuyện đùa đâu.”

          “Thôi thì cứ như vậy đi.” Tôi nói. “Tụi mày xin được thì đi, không xin được thì ở nhà, tao đi một mình.”

          “Á à!” Thằng Hùng chỉ mặt tôi toét miệng cười nói. “Muốn bỏ lên núi làm Sơn Tinh à. Đâu có dễ vậy. Kiểu gì thì cũng phải đi theo xem mày làm trò gì trên đấy.”

          Cuối cùng ba chúng tôi thống nhất là sẽ cố gắng hết sức để xin phép gia đình, rồi khi có lịch trình cụ thể sẽ lên đường ngay.

          Ngày hôm sau đúng như tôi đang mong đợi, Ả Đặng tìm tôi. Hai chúng tôi ra công viên vừa đi dạo vừa nói chuyện. Sau một loạt các loại câu hỏi mở màn liên quan đến chuyện thi cử, học tập, ăn ở, rồi nhắc đến những sự kiện lịch sử lần trước, chúng tôi nói sang vấn đề chính.

          “Còn mười ngày nữa là nghỉ hè rồi. Ả Đặng tính hai tuần nữa sẽ về, như vậy thì có tiện cho Nam không. Nam có cần thêm thời gian chuẩn bị không?”

          Tôi thì đang rất sốt ruột, chỉ muốn nghỉ phát là đi luôn cho nhanh, vậy nên đáp: “Không có gì bất tiện cả. Ả Đặng đi lúc nào thì bọn Nam sẽ đi lúc ấy. Nam rủ thằng Hùng với thằng Sang đi nữa, có được không?”

          Nàng ta cười nói: “Được chứ, Ả Đặng cũng muốn có thêm mấy bạn nữa cùng đi, để cùng được nghe câu chuyện mà Nam sẽ nghe. Vậy nên Ả Đặng cũng rủ thêm hai bạn trong lớp nữa đó. Đó là Thủy Ngân lớp phó với lại Trúc Linh ngồi cạnh Ả Đặng. Cả hai người bọn họ đều hứa sẽ đi nhưng nói là phải chờ xem có xin phép được ba mẹ không đã.”

          Tôi thật sự rất kị với cái con lớp phó nẻo mép ấy, nhưng nghe nói có thêm cô ta với Trúc Linh đi cùng tôi cũng cảm thấy vui vui, dẫu sao có bọn con gái thì không khí bao giờ cũng háo hức hơn. Vậy là chúng tôi định ngày khởi hành xong xuôi rồi chia tay ra về.

          Chẳng mấy chốc thì tiếng ve đã râm ran trên những hàng phượng trải dọc trên con đường từ trường về nhà tôi, báo hiệu sự ngự trị của mùa hè, một quãng thời gian tươi đẹp, đang tới gần. Tôi dành ra hai ngày để sửa soạn đồ đạc, rồi thêm một ngày nữa để cân nhắc tới lui xem liệu có thứ gì đó cần thiết mà quên chưa mang đi không. Mẹ tôi cũng góp ý cho tôi những lời khuyên rất bổ ích, bà chuẩn bị cho tôi áo ấm, giày leo núi, kem chống muỗi, mắt kính, đèn pin, quần áo… và cả những thứ mà tôi nghĩ là hoàn toàn không cần thiết như găng tay, vớ chân, sách hướng dẫn sinh tồn nơi hoang dã, còi báo hiệu, thuốc kháng sinh… và vô duyên nhất là một cái túi ngủ gấp gọn gàng trông y như một cái áo mưa, mặc dù tôi đã nói đi nói lại với bà rằng tôi lên nhà Ả Đặng chơi, ở đó có nhà có cửa có làng có xóm hẳn hoi, chứ không phải đi thám hiểm rừng già mà chuẩn bị đủ các thứ linh tinh thế này.

          “Đừng có cãi mẹ!” Bà dứt khoát nói. “Tao là mẹ mày, tao biết cái gì cần thiết. Ngày xưa tao cũng ở trên đó một thời gian rồi đấy.”

          Thông tin này khiến tôi thấy thú vị hẳn, tôi hỏi. “Mẹ cũng từng ở trên cao nguyên rồi hả.”

          Bà vừa gấp đồ vừa nói. “Phải. Tao ở trên đó với ba mày, đi chơi thôi.”

          Nhắc đến ba lòng tôi lại trùng xuống, ông ấy đã mất từ hồi tôi lên lớp 1, và tôi vẫn luôn cố tránh nghĩ về sự mất mát ấy. Vậy tôi không nói gì nữa, để mặc mẹ tôi muốn chuẩn bị cái gì cũng được. Kết quả cuối cùng là hai cái ba lô to tướng làm tôi phát hoảng, vác theo hai cái này chắc tôi đứt hơi mất. Nhưng đành phải chịu, sống cả một tháng trên đó chứ đâu phải hai ba ngày đâu. Với lại mẹ tôi là người chu đáo nhất tôi từng thấy, nghe theo bà thường thì chẳng sai.

          Nhóm chúng tôi họp nhau tại nhà thằng Sang. Nhà nó là một căn biệt thự lớn có sân rộng, nằm trong một khu biệt thự hạng sang, kể cũng là con nhà đại gia. Tất cả vừa đủ năm người như dự tính ban đầu không thiếu một ai. Đến nơi tôi mới biết mình là đứa gọn gàng nhất, vì hai đứa con gái có tới ba cái vali lớn và thêm một cái balô nho nhỏ đeo trên lưng, vừa để hợp thời trang vừa để đựng những thứ thiết yếu cần dùng mọi lúc mọi nơi của bọn con gái. Thằng Hùng cũng hai cái vali như tôi, nhưng kích thước lại lớn hơn đáng kể, chỉ có thằng Sang là khối lượng hành lí tương đương tôi mà thôi.

          Đây là lần đầu tiên chúng tôi đi chơi mà có thêm mấy đứa con gái trong lớp, không khí vì thế cũng khang khác. Hai đứa con gái so với mọi ngày thì hôm nay trông cũng lạ, đứa nào cũng đẹp hơn đáng kể trong những bộ đồ mang phong cách xì tin, toát lên được làn da trắng nõn nà và sức sống hừng hực của tuổi bẻ gãy sừng trâu. Con bé lớp phó tên Thủy Ngân kể ra cũng rất xinh đẹp, dáng người cao cao cân đối, khuân mặt thanh tú dịu hiền trái hẳn với tính nết mà tôi đã mặc định là bà chằn, nhưng nói cho đúng thì ngoài chuyện học hành ra bình thường nó cũng dễ thương lắm, hòa đồng và hay giúp đỡ bạn bè. Còn Trúc Linh phải nói là đứa cá tính nhất lớp, tóc ngắn, thích ăn mặc đơn giản như con trai, và dù chiều cao có hơi khiêm tốn cũng không ngăn được cô nàng tham gia bất cứ khi nào có thể các trò mạnh chân khỏe tay của phái nam. Nhưng sự cá tính và ưa vận động ấy chẳng mảy may làm thuyên giảm sự duyên dáng của cô nàng, một đôi mắt to tròn như mấy nhân vật anime trong phim, một sống mũi vút cao đáng phải ghanh tị và nhất là đôi môi gợn sóng rất quyến rũ, tất cả được sắp đặt gọn gàng ngăn nắp và cân đối trên khuân mặt tròn trĩnh như búp bê của cô nàng.

          Nhóm chúng tôi bắt taxy đi ra bến xe, trước mắt hứa hẹn sẽ là một hành trình dài sáu tiếng để lên vùng cao. Chúng tôi đi chuyến cận trưa, vậy thì đến tối là sẽ lên tới thành phố Buôn Mê Thuật. Ở đó chúng tôi sẽ nghỉ lại một đêm, sáng hôm sau sẽ lên bản của Ả Đặng, mất thêm bốn giờ đồng hồ nữa theo như nàng ta cho biết.

          Quãng đường đi lên cao nguyên có những đoạn phong cảnh hùng vĩ tuyệt luân với núi đồi thung lung xen kẽ nối tiếp đuổi bắt nhau chạy mãi về chân trời, có những đoạn sơn thủy hữu tình với những con sông êm đềm và hồ nước mộng mơ chen mình dưới chân những rặng núi, lại có những đoạn cảnh vật nên thơ với những cánh đồng hoa bạt ngàn đủ các màu khoe sắc phủ kín các dãy đồi hoang. Tất cả làm bọn chúng tôi ngây ngất và không ngừng tấm tắc khen đẹp, đứa nào cũng thi nhau chụp hình tách tách lưu giữ vẻ đẹp thiên nhiên.

          “Hoa đẹp quá kìa tụi mày!” Trúc Linh trầm trồ khi xe lượn lên một sườn đồi, chạy dọc hai bên là muôn sắc hoa dại đang rực rỡ khoe màu. Thằng Hùng lập tức vác cái máy chụp ảnh to tướng lên tách tách chụp một loạt cả chục tấm.

          “Có phải hoa Dã Quỳ không nhỉ?” Thủy Ngân thắc mắc trong khi đôi mắt long lanh vẫn ngây ngất trước ngàn hoa.

          “Không phải đâu,” Ả Đặng tươi cười trả lời, “đó là những loài hoa dại vô danh thôi, Dã Quỳ nở rộ và độ tháng cuối tháng mười, lúc đó thì còn rực rỡ hơn cả thế này nữa. Cả một dãy đồi mênh mông tràn ngập hoa vàng, trông thích lắm. Quanh nhà Ả Đặng năm nào Dã Quỳ cũng nở rộ, biến một vùng núi non thành ra như chốn bồng lai tiên cảnh vậy.”

          “Nghe thích quá nhỉ!” Trúc Linh nói. “Giá chúng ta đi vào tháng ấy thì còn đẹp hơn thế này.”

          Xe leo lên một con đèo, núi non hùng vĩ hiện ra bên ngoài cửa sổ, bên dưới là thung lũng sâu hun hút. Tôi ngắm cảnh mà lòng cũng cảm khái, thấy đất nước mới tươi đẹp làm sao.

          “Hình như người Mường Ả Đặng sống nhiều ở tỉnh Hòa Bình phải không nhỉ?” Tôi hỏi Ả Đặng.

          “Đúng vậy.” Nàng đáp. “Hơn chín mươi phần trăm người Mường sống ngoài đó, chỉ có một số nhỏ như gia đình Ả Đặng là di cư vào trong này thôi.”

          “Tại sao lại di cư?” Tôi hỏi. “Gia đình Ả Đặng là một gia đình rất quan trọng, lẽ ra phải sống ở nơi sinh tụ đông đúc chứ, đâu phải ở những nơi dân cư rải rác như vậy.”

          “Nam nhận xét phải lắm.” Nàng nói. “Gia đình Ả Đặng di cư vào trong Tây Nguyên cách đây hai mươi năm vì những nguyên nhân sâu xa bên trong, rồi Nam sẽ biết thôi.”

          Đó lại là một điểm nữa khiến tôi thêm tò mò.

          Mải ngắm nhìn cảnh vật núi non bên ngoài nên sáu tiếng đồng hồ cũng qua đi nhanh chóng. Chẳng mấy chốc đã thấy hai bên đường nhà cửa mọc lên san sát, phố xá tấp nập, vậy là đã lên tới thành phố Buôn Mê Thuật rồi.

          Khi xe cập bến chúng tôi liền đi thuê hai phòng khách sạn với giá rẻ bất ngờ, rồi kéo nhau đi ăn tối, rồi đi chơi phố đêm, thăm thú đủ các nơi tới mãi muộn mới về. Về khách sạn cũng chưa ngủ ngay mà còn ngồi tán dóc thêm một lúc lâu nữa. Vì là đi du lịch cho nên cũng không ai muốn phung phí thời gian vào việc ngủ cả. Khi đã nhuốm mệt rồi thì chúng tôi mới chia nhau về phòng. Tôi nhắn tin hẹn Ả Đặng lên sân thượng hóng gió, cũng vì có chuyện cần nói.

         Gió vùng cao thổi lồng lộng mang theo hơi lạnh trong lành vương mùi rừng núi. Ả Đặng đứng dựa vào lan can. Tà áo khoác rộng đan bằng một loại vải thưa lẫn mái tóc dài buông xõa của nàng cuồn cuộn tung bay trong gió như những con sóng nhấp nhô trên mặt biển bàng bạc ánh trăng huyền ảo, trông mê hoặc đến lạ kì, tựa như nàng không thuộc về thế giới này, tựa như nàng là một tiên nữ đang sắp sửa bay khỏi thế gian. Tôi ngẩn người ra cho tới khi nàng nở một nụ cười lấp lánh như ánh sao trong đêm tối gọi tôi: “Hẹn Ả Đặng lên đây mà sao lại đứng đó nhìn, mau ra đây đi, trăng đêm nay đẹp quá. Từ hồi ở thành phố Ả Đặng không được ngắm trăng đẹp thế này.”

          Tôi lật đật bước đến đứng cạnh nàng. Lần đầu tiên tôi nhận ra nàng có một mùi hương thoang thoảng mà rất nồng nàn. Tôi nghĩ khứu giác là thứ khó mô tả hơn cả, có quá ít từ ngữ để diễn đạt một mùi hương, mà cái vốn lưng gió túi trăng của tôi thì nghèo nàn quá sức nên tôi không biết phải nói về mùi hương của nàng ra sao. Nó hoàn toàn khác tất cả các loại nước hoa mà bọn con gái trong lớp, cũng như mẹ tôi, và tất cả phụ nữ tôi từng gặp, dùng. Nó không làm tôi khó chịu, trái lại làm tôi mê mẩn, hồn như đắm vào trong mùi hương ấy, như chìm trong một thế giới mênh mang của dịu ngọt. Nếu như sau này tôi có gặp loài hoa nào có mùi hương giống nàng, tôi sẽ lưu ý để các bạn cũng sẽ cảm nhận được cảm giác của tôi lúc này. Có một điều tôi chắc chắn rằng đây là mùi hương tự nhiên, là mùi hương của một sơn nữ. Nhưng tôi không tin sơn nữ nào cũng được như nàng đâu.

          Khoảnh khắc ấy diễn ra nhanh chóng mà tựa như vĩnh cửu, tôi không bao giờ quên mùi hương ấy. Vẫn là Ả Đặng tươi cười lôi tôi ra khỏi những quyến rũ của giác quan. “Nam làm sao ấy vậy, sao không nói gì?”

          Tôi thấy mình cần chỉnh đốn lại đầu óc đang mụ mẫm, không thì sẽ bị nàng cười chết mất. Chắc các bạn cũng hiểu những đứa con trai lớp mười một thì hẵng còn mơ hồ chuyện trăng sao lắm. Nếu như cũng trong hoàn cảnh này mà tôi lớn thêm bốn năm tuổi nữa, thì tôi đã say mê nàng, đã yêu nàng bằng tình yêu thuần khiết của loài người dành cho thiên nhiên rồi. Nhưng thay vì là cảm xúc yêu đương trong tôi dấy lên một sự ngưỡng mộ mơ hồ, chỉ vậy thôi chứ tôi cũng không biết phải tả sao cho đúng, mà chắc nếu các bạn đã đi qua lứa tuổi này và từng rung động trước một thiếu nữ thì cũng dễ hiểu thôi. Vậy tôi nói vào chủ đề chính: “Ả Đặng có định nói cho mấy đứa biết mục đích thật sự của chuyến đi này không?”

          Nàng cười nói: “Tất nhiên là có rồi. Ngày mai Ả Đặng sẽ nói rõ cho họ nghe.”

          “Nam cũng định nói cho hai thằng kia,” tôi nói, “nhưng chỉ sợ bọn nó không tin. Chính Ả Đặng nói cho bọn nó thì hay hơn.”

          “Ả Đặng nghĩ với chuyện này họ sẽ thấy chuyến đi này còn thú vị hơn đấy.”

          “Nam cũng mong là vậy, chứ giữa chừng bọn nó đòi về thì hỏng bét. Nam cũng đang rất nôn nóng được gặp Quan lang nhà Ả Đặng đây.”

          “Có lẽ sẽ hơi vất vả đấy.” Ả Đặng hơi xuống giọng. “Quan lang sống tách biệt với dân làng trong núi sâu, đường vào núi sẽ không dễ đi đâu.”

          Tôi hơi ngạc nhiên. “Sao ông ấy cần phải làm vậy?”

          “Có lí do của nó. Ông sống trong một hang động lớn rất đặc biệt, trong đó cất giữ tất cả thư tịch của dòng họ nhà Ả Đặng, những thư tịch vô giá về đất nước này. Nhưng Nam cứ yên tâm, sớm muộn Nam cũng phải gặp ông ấy thôi.”

          “Nam thắc mắc chút. Ả Đặng là gì của Quan lang?”

          Nàng cười. “Là cháu ngoại đấy. Chỉ có Ả Đặng là được phép thường xuyên tới thăm ông thôi. Còn người trong bản không được đến, các Già làng cũng thỉnh thoảng mới được vào.”

          “Lạ nhỉ. Quan lang ở một mình trong núi sâu làm cái gì chứ?”

          “Chép sách, nghiên cứu lịch sử cùng nhiều thứ khác nữa, với mục đích chính là tìm cho ra vị trí chôn cất Bia Trời.”

          Tôi gật gù, đôi mắt chợt bắt gặp vầng trăng tròn vành vạnh và to một cách lạ kì trên bầu trời thăm thẳm. Tôi chưa bao giờ để ý rằng trăng lại đẹp tới vậy, lại sáng tới như vậy. Tôi nhận ra sự thiệt thòi của người thành phố. Họ như sống trong một cái lồng khổng lồ nhưng ngột ngạt. Họ chen chúc xô đẩy nhau trong cái lồng ấy, mổ xẻ cấu xé lẫn nhau để giành miếng ăn, và không hề biết rằng trên bầu trời có một vầng trăng muôn đời quyến rũ đến thế kia.

          “Trăng đẹp quá!” Tôi vô tình thốt lên. “Ả Đặng nhìn hai đám mây kia mà xem, trông cứ như hai bàn tay đang ôm lấy mặt trăng vậy.”

          Nàng cười, đôi mắt mở lớn hơn như muốn thâu hết bầu trời vào trong. Tôi trông thấy nàng dường như đang đắm chìm trong ánh trăng, không đơn thuần như tôi chỉ là thấy trăng đẹp mà thôi.

            Mãi muộn chúng tôi mới chia tay nhau.