Chương 3. Cảnh xưa còn đó, người xưa đâu rồi?

Like & Share:

     Vừa đến đầu ngõ, tôi đã thấy ngôi nhà của bà lẫn trong sắc xanh cây lá. Nhà bà tôi vẫn như xưa, chỉ là đã lợp lại mái, sơn lại tường, cái cổng cũng đẹp đẽ hơn xưa nữa. Vườn nhà bà rất rộng, trồng đủ loại cây từ rau, hoa cho đến cây ăn trái. Ở cuối vườn còn có một cái ao, tuy trong mắt tôi nó chỉ bé như cái vũng nhưng vẫn có thể ra đó câu được ối thứ cá, thế là được rồi.

     Bà và mợ là người quản lí chính của mảnh vườn, thằng Cường, thằng Long là nhân công, chia mảnh vườn thành các luống trồng các loại cây khác nhau. Mùa này đang có rau ngót, rau đay, mùng tơi và đầy thứ rau tôi có ăn nhưng chẳng biết tên chúng là gì. Đặc biệt, bà còn dành khoảng vườn đối diện với cửa chính để trồng hoa. Tôi nhận ra vài giống hoa, ví dụ như dừa cạn biêng biếc, mười giờ đủ thứ màu từ hồng, vàng, đỏ, trắng cứ hễ nắng lên cao là đua nhau khoe sắc. Còn có cả loài hoa phong lữ thảo đến lá cũng có đường vân đẹp như hoa mà tôi rất thích nữa chứ. Ở các góc vườn là những những thức cây ăn trái dành riêng cho mùa hạ cây nào cây nấy quả sai lúc lỉu. Ngày xưa nhà bà có nuôi gà, một đàn gà tre to hơn cái nắm tay của cậu chạy tới chạy lui trong đám đất cậu mợ quây lưới lại cho khỏi phá rau. Trứng gà tre tuy bé mà ăn “chất” hơn hẳn trứng gà công nghiệp bán đầy ngoài chợ, không kể món thịt gà rang và gà tần chính tay cậu chế biến nữa thì ngon quên đường về.

    Ngoài mảnh vườn rộng ở nhà ra thì bà còn có mấy mẫu ruộng trồng lúa và khoai đan xen nữa. Nên lần nào về quê tôi cũng được bà chọn cho những củ khoai lang mật vừa to lại ngọt bùi nhất, không bị hà. Trước giờ tôi vẫn thắc mắc khoai bị hà là khoai gì, từ “hà” đấy có giống với “hà” trong “băng hà” không, thằng Cường biết được cười mất mấy bữa liền, đến mức nó không dám ăn khoai nữa vì cứ thấy khoai là lại mắc cười. Nó giải thích, “hà” là tên một loại côn trùng, đúng hơn là lũ ấu trùng mà nông dân hay gọi là sâu, sống dưới đất và ăn vào củ khoai. Chỗ bị sâu đục tạo thành các vòng đen và trắng, gọt ra thấy thâm lại, luộc lên ăn thì vừa cứng vừa đắng. Nó còn nói, ngày xưa thời đói kém, người ta còn đi bắt con hà này về chế biến thành món ăn. Tôi nghe chỉ biết há hốc mồm.

     Chắc những gì nó nói cũng có cơ sở vì tôi vẫn thấy nó theo mẹ ra đồng thu hoạch khoai hay cấy mạ, gặt lúa vào những lúc rảnh. Vì cậu làm công nhân xây dựng, bà đã yếu chỉ quanh quẩn ở nhà với vườn rau nên việc đồng áng mợ cáng đáng hết, những lúc rảnh thằng Cường và Long vẫn ra đồng giúp mẹ. Ruộng nhà bà không lớn lắm nên công việc cũng không quá nặng nhọc, đấy là tôi nghe mợ nói chứ với một đứa ít động tay động chân như tôi thì việc đồng áng mới nhìn qua đã thấy vô cùng vất vả rồi.

     Vừa đẩy cổng vào đã thấy trên cây roi trong vườn, ngay sát tường bao có treo một cái lồng sắt, bên trong là một con chim béo mũm lông đen có khoang trắng trước cổ thành hình cái yếm. Nhác thấy người, con chim xù lông lên, nhún chân lấy đà, rụt cổ lại rồi réo lên một tràng dài: “Có khách… Có khách…”.

     Thì ra là chim khướu. Con này nói rõ tiếng ghê, chỉ là mỗi lần “hót” xong như vậy trông nó tả tơi không chịu được. Tôi tấm tắc khen:

     – Ai dạy con khướu nói sõi quá!

     – Làm gì còn ai rảnh rỗi thế ngoài thằng Cường hả con? Thằng Long mê bóng bánh thì thằng này mê chim, từ hồi xưa đã hay nuôi chim chào mào đó con, con còn nhớ không? Không biết nó vác con khướu này từ đâu về, suốt ngày âu yếm gọi nó rồi cho nó ăn, có lần cậu ngứa mắt quá dọa cho con chim vào nồi, nó giận cậu mất mấy buổi – Cậu vừa nói vừa nhăn mặt – Mà thằng này ban đầu dạy con chim nói “Cút đi”, mấy lần cậu đi làm về, đã mệt thì chớ con chim lại cứ “Cút đi, cút đi”, cậu bực quá bắt thằng Cường dạy nó câu khác không cậu đáp cả lồng ra đường. Thế mà bây giờ thỉnh thoảng nó nhớ ra vẫn “Cút đi” đấy. Con có thấy thì cứ kệ nó!

     Tôi dở khóc dở cười đáp:

     – Vâng, con không chấp với chim đâu!

 

     Tôi và cậu chưa vào đến sân đã thấy thằng Cường đánh độc một chiếc quần đùi đu từ lan can xuống. Thằng bé, mặc dù đã là sinh viên đại học rồi nhưng vì nó bé hơn tôi, tôi vẫn thích gọi là thằng bé hơn, càng ngày càng đen, đen giòn như củ khoai lùi.

     Vừa chào bố xong, nhác thấy bóng tôi đằng sau, thằng bé ngỡ ngàng mấy giây rồi la toáng lên:

     – Bà ơi, mẹ ơi, chị Hoàng Anh về này! Bà ơi, mẹ ơi!

     Cậu tôi quát:

     – Mày là con người chứ con khỉ à mà suốt ngày đu xuống thế hả Cường?

    Nghe bố quát, thằng Cường nhe răng cười, gãi gãi đầu. Nó nhanh nhẹn đỡ lấy hai chiếc ba lô từ tay bố xách vào trong nhà.

     Bà tôi từ trong nhà đi ra. Bà già hơn nhiều lắm, mái tóc bạc phơ, những vết nhăn lại càng hằn rõ. Bà gầy hơn trước, lưng đã còng, đi chậm. Tôi chạy ào lên, nghẹn ngào gọi:

     – Bà ơi!

     Hai tiếng “Bà ơi” này đã lâu lắm rồi tôi chưa bật lên thành lời. Trước đây với tôi, nó cũng chỉ là một từ gọi đáp nhưng sao lúc này lại nghe xúc động đến thế. Bà dang tay ôm tôi vào lòng như ngày tôi còn bé xíu, như lúc tôi là một học sinh cấp ba. Quê tôi xa nhà tôi quá, tôi lại dễ say xe, từ bé đến giờ về quê có ba bốn lần. Lần nào bà cũng ôm tôi như vậy…

     – Con bé này, lớn đùng rồi, sắp thành cô giáo rồi đừng có khóc nhè đấy chứ!

     Bà nói đùa nhưng sao tôi vẫn thấy giọng bà nghẹn lại.

     Mợ tôi từ dưới bếp đi lên, tay vẫn cầm đôi đũa còn dính dầu. Mợ nhìn tôi từ đầu đến chân rồi bảo:

     – Ôi cái con bé này, càng ngày càng ra dáng gái phố.

     Tôi cười hì hì:

     – Mợ nói y như cậu vậy!

     Mợ vỗ vai tôi bảo:

     – Đi đường xa chắc mệt lắm, lên nhà uống hớp nước nhé. Mợ nấu sắp xong rồi, lát nữa là dọn cơm ra thôi!

    Tôi định xuống phụ mợ nhưng mợ cứ xua lên nhà cho bằng được. Thế là bà dẫn tôi vào nhà. Vào đến trong nhà mới thấy chẳng khác gì năm xưa. Vẫn bàn thờ để góc phải nhà, vẫn bộ bàn ghế gỗ, vẫn chiếc quạt to đùng treo trên tường chép một bài thơ chữ Hán, vẫn gian nhà trong cửa luôn mở có hai chiếc giường để ở hai góc nhà đối diện nhau, vẫn chiếc tivi đời cũ có dây ăng ten như hai chiếc râu vểnh lên, vẫn chiếc hộp đựng những đĩa phim siêu nhân mà thằng Cường quý hơn vàng. Nhưng dường như so với năm năm trước, ngôi nhà nhuốm một thứ ánh sáng bàng bạc của kí ức.

     Tôi ngồi trên chiếc ghế đơn, cảm giác không thể êm ái bằng sofa nhưng đỡ đi được phần nào sự mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Cậu rót cho tôi một cốc nước, giục uống cho đỡ mệt. Tôi đón lấy cốc nước đưa lên miệng. Vị nước tự đun khác hẳn với Aquafina, Lavie mà tôi vẫn thường mua trong canteen, nhét trong cặp uống cho tiện. Thoáng mùi của khói, của ánh lửa bập bùng, thoáng mùi của chiếc siêu bằng nhôm, thoáng mùi tro bếp, thoáng mùi ngọt lành của tình thương.

     Bà xuống nhà, bưng lên một rổ gì đó. Bà ngồi xuống cạnh cậu trên ghế dài, đặt chiếc rổ tre lên bàn tôi mới biết là khoai lang mật. Những củ khoai mập mạp, tím thẫm ngon lành.

     Bà nhặt lấy củ to nhất, bẻ làm đôi đưa cho tôi:

     – Ăn đi con, khoai ban sáng bà luộc, nhặt lại mấy củ ngon nhất phần con đấy! Hơi nguội một tí nhưng không sao. Khoai nhà mình trồng ngon hơn hẳn khoai mua con ạ!

     Tôi đón lấy nửa củ khoai. Bóc lớp vỏ tím, phần củ vàng ươm như mật hiện ra, cắn một miếng thôi đã thấy vị ngọt bùi ùa vào khoang miệng.

    Cậu tôi lên trên tầng thay quần áo. Thằng Cường thì sau khi đem ba lô vào trong nhà cho tôi thì chạy đâu mất dạng. Chỉ còn bà ngồi bên bàn nước với tôi. Bà hỏi tôi đi đường có mệt không, bố mẹ tôi vẫn khỏe chứ, việc học của tôi thế nào, khen tôi ra dáng thiếu nữ, tôi vui vẻ trả lời hết, cũng hỏi thăm đôi điều về họ hàng dưới quê. Tôi cảm thán:

     – Bà ơi, dạo này quê mình khác trước nhiều nhỉ! Con mà tự đi chắc lạc luôn.

     – Đấy là con đi lâu không về nên thấy vậy thôi, chứ bà ở đây suốt, chứng kiến từng sự thay đổi nên cũng không thấy khác nhiều lắm. – Bà chép miệng – Thế con đi từ bến xe về đây bằng cái gì thế?

     – Dạ con đi xe ôm, đến gần cổng làng thì nhớ ra là chẳng nhớ đường mấy nên nhờ cậu ra đón. – Tôi gãi đầu thú nhận.

     Bà cười, trách yêu tôi đi có mấy năm đã quên đường. Tôi cũng cười. Ngày xưa chạy lông nhông cùng bọn thằng Cường, thằng Long với lũ trẻ trong xóm suốt, gần như ngóc ngách nào chúng nó cũng dẫn tôi đi, vậy mà bây giờ tôi chẳng nhớ gì.

     Ngập ngừng một lát, tôi mới lên tiếng hỏi:

     – Bà ơi, thế cô bé Út con chú Năm giờ sao rồi bà?

     – Chú Năm nào con? Giờ trí nhớ bà kém quá…

     – Chú Năm nhà cuối ngõ đó bà! – Tôi vội trả lời, không quên nói thêm – Chú mà nhỏ người nhưng trông dữ dữ, da đỏ như tôm luộc đó bà.

     Bà “À” một tiếng rồi nhìn tôi, gương mặt thoáng qua một nét gì đó thật lạ như thể nhuốm một nỗi buồn sâu xa.

     – Bà nhớ rồi! Chú Năm đó vào tù được mấy năm rồi con!

     Tôi tròn mắt:

     – Ủa… sao lại…

     Bà như đọc được những sự kinh ngạc của tôi dù cho tôi chưa nói ra thành lời. Bà nói tiếp:

     – Con hỏi thằng Cường đó, mấy chuyện này bà cũng không rõ lắm.

     Tôi còn định hỏi thêm nữa nhưng đã nghe thấy tiếng mợ gọi từ dưới phòng ăn vọng lên:

     – Mẹ, anh và các con xuống ăn cơm đi thôi, cơm nước xong hết rồi đây!

     Rồi lại nghe tiếng cậu bước xuống từ tầng hai:

     – Cái thằng Cường này đến giờ ăn không biết lại chạy đi đâu rồi đấy nhỉ? Còn thằng Long học hành gì đến giờ này chưa về không biết?