Chương 2: Cuộc hẹn bất ngờ

Like & Share:

Con bé người dân tộc là chủ đề bàn tán chính của đám con trai chúng tôi trong suốt mấy ngày sau đó. Trước tiên đương nhiên là về nhan sắc, tất cả đều đồng ý rằng con bé đó đẹp theo một cách rất khác lạ, khác với kiểu đẹp của bọn con gái thành phố. Ả Đặng có làn da rám nắng, đôi mắt đen láy tròn xoe mà thằng Hùng bảo là giống mắt chim ưng núi. Cũng chẳng ai biết con chim đó hình thù thế nào nhưng vì con bé chắc cũng sống trên núi nên cả bọn đều gật gù tán đồng cách so sánh đấy. Mái tóc mới thật là điểm đáng lưu ý nhất nơi Ả Đặng. Mái tóc đò dài tới “ngang mông” như cách nói của thằng Sang, đen như gỗ mun theo cách ví von của thằng Toàn và chắc chắn là thơm mùi rau rừng như ý tưởng có phần khó hiểu của thằng Hùng, một thằng phá bĩnh nhất lớp. Nhưng nói gì thì nói, mái tóc đó rất dài, rất đen và rất mượt mà nữa, trông nổi bật trước những bộ tóc duỗi thẳng tuột của đám con gái trong lớp. Và bởi vì có mái tóc dài, nên khuân mặt của Ả Đặng trông cũng rất người lớn, các bạn đừng nghĩ là trông già nhé, hoàn toàn không già, mà ý mình là trông chững chạc ấy. Kỳ lạ ở chỗ khuôn mặt ấy không gợn một vệt mụn, điều mà chắc chắn đám con gái với sự trợ giúp của vô số mỹ phẩm trong lớp tôi phải ghanh tị, sóng mũi nhô cao, hai hàng mi uốn lượn như gợn sóng và đôi mắt tôi cảm thấy sâu thăm thẳm như bầu trời.  Khuân mặt ấy, nếu như bọn con trai chúng tôi trưởng thành hơn một chút, già dặn hơn một chút, thì chắc chắn càng nhìn sẽ càng thấy đẹp. Nhưng đáng tiếc là bọn tôi chỉ là đám học sinh lắm mồm nên chỉ đánh giá chung là “nhìn được” thế thôi.

          Ả Đặng không quá hiếu động mà cũng không quá thụ động. Nàng ta cười nói với tất cả những ai cười nói với mình nhưng lại không chủ động bắt chuyện với ai cả, nàng cũng không ra ngoài vào giờ ra chơi, không lên căng-tin, thậm chí thằng Sang còn bảo là không thèm vào nhà vệ sinh nữa, và nhất quyết không chịu mặc đồng phục như các bạn nữ khác mà chỉ mặc độc có bộ áo như tôi đã tả của mình. Thái độ nửa hòa đồng nửa cô lập đó của nàng khiến lũ con trai tụi tôi dù muốn quy kết nàng vào diện cá biệt cũng khó. Tuy thằng nào cũng to mồm bàn tán về Ả Đặng nhưng không thằng nào dám chủ động mở mồm hỏi thăm nàng ta dăm ba câu hay thử tán tỉnh xem tình ý thế nào. Vì thế bàn cũng chỉ là bàn suông thôi. Mà cá nhân tôi cũng rất tò mò về nàng ta, thật muốn tìm hiểu xem rốt cuộc một cô gái dân tộc thì sẽ như thế nào. Nhưng tôi cũng không có dại bắt chuyện với nàng, vì như thế là tạo một cái cớ hiển nhiên cho tụi bạn châm chọc rồi.

          Sau hai tuần học chung thì mọi người đều quen với sự hiện diện của Ả Đặng trong lớp, nàng ta có vẻ cũng đã kết bạn được với mấy đứa con gái, nhất là có vẻ thân nhất với cái con lớp phó. Ai cũng bắt đầu nhận ra rằng nàng học rất giỏi, gần như tất cả các môn, mặc dù không hề đi học thêm như hầu hết chúng tôi. Sự thật đó khiến nàng trở thành một nhân vật đáng nể trong lớp và tất cả những đứa nào lúc đầu có ý xem thường một học sinh dân tộc giờ đều phải xem lại mình hết. Cái đáng quý ở Ả Đặng là nàng lại rất điềm tĩnh, cái này hơi khó tả, ý tôi là nàng ấy chẳng bao giờ tỏ vẻ như mình là kẻ học giỏi như tất cả những đứa học giỏi khác, tức là kiêu căng, ra vẻ, theo cách nói thông thường đấy. Điều đó khiến nàng được hầu hết các bạn trong lớp lấy làm hài lòng và còn ngấm ngầm lấy làm gương để phấn đấu nữa. Và nói gì thì nói, vì Ả Đặng là nhân vật đặc biệt, nên chúng tôi đều có ý chiếu cố cho nàng ta. Chúng tôi không bắt nàng đóng quỹ, không bắt dọn vệ sinh, nói chung là đủ các thứ linh tinh mà đứa học trò nào cũng sợ. Nàng cũng không phàn nàn gì về điều đó, nói chung nàng có vẻ hài lòng và sẵn sàng hài lòng về mọi việc.

          Thưa các bạn, tôi kể về Ả Đặng như thế vì chẳng bảo lâu sau nàng đã trở thành một bước ngoặt trọng đại của đời tôi. Và đây chính là câu chuyện mà tôi muốn kể với các bạn. Chắc hẳn các bạn đang nghĩ chắc là chúng tôi yêu nhau. Chuyện trọng đại với một cậu con trai mới lớn chỉ có vậy. Các bạn nghĩ đúng rồi đấy, nhưng đó là chuyện xảy ra mãi sau này nữa, khi chúng tôi đã tốt nghiệp đại học rồi. Còn chuyện trọng đại mà tôi đề cập tới bắt đầu vào một giờ ra chơi như tất các các giờ ra chơi khác, hai tháng sau khi nàng vào lớp.

          Hôm đó tôi đứng trên ban công nhìn xuống sân trường tràn ngập học sinh trong những tà áo trắng, đi qua đi lại như đi hội. Không hiểu sao hôm đấy tôi không đi theo lũ bạn xuống căn-tin tìm ăn mà lại đứng trơ trọi một mình như vậy. Bỗng nhiên Ả Đặng bước đến đứng kế bên tôi, rồi nở một nụ cười tươi như bông hoa núi, tôi mãi mãi không quên nụ cười sơn nữ ấy. Sự bối rối làm tôi phải mất mấy giây mới cười đáp lại được. Chưa bao giờ thấy nàng ta ra khỏi lớp giờ ra chơi và lại càng chưa bao giờ bắt chuyện với ai nếu như không phải liên quan tới việc học.

          “Nam không đi với mấy bạn sao?” Nàng mở lời, và lần đầu tiên tôi nhận ra giọng của nàng có gì đó thật lạ, vừa du dương mà cũng vừa rắn rỏi, đại khái là giọng lạ, hay.

          “À… không!” Tôi thành thật đáp, và kéo dài câu trả lời một cách không cần thiết. “Mấy đứa nó đi rồi, Nam không có đi.”

          “Buổi chiều nay Nam có rảnh không,” nàng tiếp, “Ả Đặng muốn hẹn gặp Nam có chuyện cần nói.”

         “À… rảnh chứ!” Tôi càng lúng túng hơn, quên mất cả việc phải suy nghĩ xem liệu mình có rảnh thật hay không, và cũng quên mất là cần phải giật mình trước một lời mời đường đột đến như vậy, mà chỉ trả lời nàng cứ như theo ý nàng muốn. “Chiều nay Nam cũng không làm gì?”

          “Vậy đây là địa chỉ của Ả Đặng,” nàng đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ, “cũng không cách xa trường lắm đâu. Từ hai giờ đến bốn giờ Nam tới nhá.”

          Tôi nhận mảnh giấy hứa rằng nhất định sẽ tới, lúc đó tôi đã lấy lại được chút bình tĩnh bèn hỏi: “Mà có chuyện gì vậy… Ả Đặng?” Thú thật là tôi không quen gọi một cái tên là lạ như vậy.

          “Cứ tới đi rồi Ả Đặng nói cho nghe.” Nàng cười chào tôi rồi vào lớp.

          Cuộc nói chuyện chớp nhoáng đó lọt ngay vào tầm mắt đám bạn học của tôi, và ngay lập tức chúng ùa đến hỏi rõ sự tình. Mà với bọn chúng thì sự tình luôn luôn là do chúng quyết định chứ không dựa vào sự thật bao giờ, và lần này chúng quả quyết rằng tôi đang có ý tán cô bé người Mường.

          “Á! Ngầm ngầm mà giết voi nhá…” Thằng Sang nhận xét.

          “Mày hơi bị liều đấy, thích của lạ à…” Đến lượt thằng Hùng.

          “Coi chừng bị bỏ bùa đấy nhá…” Thằng Toàn cảnh giác tôi.

          “Ả Đặng đẹp vậy, chẳng cần bùa thì thằng Nam cũng chết mệt rồi…” Thằng Sang kết luận.

         Thật may là chúng không thấy mảnh giấy Ả Đặng đưa cho tôi, không thì khó mà cản bọn chúng cướp lấy được. Tôi đành chịu trận, chỉ trả lại được một vài câu như: “Bọn mày cười cái gì…” hoặc “Tầm bậy tầm bạ, nó hỏi bài chứ có gì đâu!”

          Đi học về tôi quăng cái cặp vào một xó, nơi nó sẽ nằm yên cho tới tận sáng hôm sau, và ngồi vào bàn học đọc lại mảnh giấy ngắn ngủi của Ả Đặng, trong lòng trào dâng một cảm giác là lạ. Một thứ cảm giác giống như mình là một người đặc biệt gì đó, được cô bé người Mường lưu tâm tới. Nhưng trên hết vẫn là nỗi tò mò, rốt cuộc nàng ta muốn nói gì với mình mà lại hẹn hò riêng tư như thế. Nên biết kiểu hẹn như vậy giữa bọn học sinh thì gần như là đồng nghĩa với tỏ tình rồi. Chẳng lẽ nàng ta có tình ý với tôi! Vậy thì phải làm sao? Nhưng như thế cũng hay, đám bạn của tôi đứa nào cũng đang ráng kiếm một mảnh tỉnh vắt vai để lưu lại chút kỷ niệm học đường và vênh vang với chúng bạn, nhưng bọn nó chưa đưa nào thành công cả. Nếu tôi có bạn gái trước thì xem như có thể vênh mặt với bọn nó được rồi. Nhưng nếu cô người yêu ấy là Ả Đặng thì liệu có gì không ổn không nhỉ. Thôi kệ! Nàng ta xinh đẹp, học giỏi, đặc biệt… càng hay!

          Vậy là tôi ôm một mối suy nghĩ miên man chờ cho đến giờ là bay tới chỗ hẹn. Trong lúc ấy thì tôi chợt thấy cuốn sách “Đẻ Đất Đẻ Nước” đang nằm lẻ loi trên kệ. Năm ngoái có học tác phẩm này nên cô dạy văn bảo chúng tôi tìm mua một cuốn về đọc. Chúng tôi ai cũng mua một cuốn đem lên khoe với cô, nhưng bài học đó qua rồi thì gần như chẳng đứa nào mở cuốn sách ấy ra nữa. Tôi với tay lấy cuốn sách xuống, bởi vì tác phẩm này là của dân tộc Mường, mà Ả Đặng cũng là người Mường, vậy là cũng có chút liên quan, thôi thì xem qua một tí giết thời gian cũng được.

          Đúng một giờ rưỡi thì tôi đã quần áo chỉnh tề, và còn dùng đến chai nước hoa chỉ những dịp trọng đại mới đem ra xài nữa, rồi xách xe đạp lên đường. Chưa đến mười lăm phút sau thì tôi đã đến nơi cần đến, vậy là vẫn còn mười lăm phút nữa mới đến giờ hẹn. Tuy sớm một chút chắc cũng chẳng sao, nhưng thôi tốt nhất thì vẫn nên đúng giờ hẵng gõ cửa. Căn nhà trong địa chỉ, đang nằm trước mặt tôi, không phải là nhà mà hình như là một cái chung cư nho nhỏ có hai tầng, cổng khóa trái, trông có vẻ cũ kỹ, nằm trong một con phố nhỏ vắng tanh, cũng may trước cổng có mấy cây bàng rợp bóng không thì chắc tôi chết dưới nắng mất.

          Đúng hai giờ thì tôi định bấm chuông, nhưng đã thấy Ả Đặng từ bên trong đi ra, rồi tươi cười dẫn tôi vào nhà. Cách ăn mặc của nàng ta chẳng khác mấy trên lớp, nhưng hình như khi lên lớp thì quần áo có vẻ mới hơn.

          Tầng trệt tòa nhà dùng làm nơi để xe, thấy toàn xe đạp, có một anh bảo vệ áo xanh ngồi gác ở bàn, liếc liếc nhìn tôi chẳng nói gì. Ả Đặng dẫn tôi lên cầu thang, vừa đi vừa nói:

          “Chỗ này nhà nước dành cho học sinh người dân tộc thiểu số như Ả Đặng ở. Trong này toàn các bạn người dân tộc không thôi à. Khi nãy Ả Đặng không xuống dẫn Nam lên thì anh bảo vệ chẳng cho vào đâu.” Lên đến tầng một Ả Đặng nhìn về phía hành lang nói: “Mấy phòng bên đó có các bạn người Tày, người Mèo, người Thái, người Nùng. Ả Đặng ở tầng hai.”

          Nói xong thì cũng lên tới nơi. Phòng của nàng nằm ngay đầu hành lang. Một căn phòng nho nhỏ với tiện nghi đầy đủ thích hợp cho một người ở. Nổi bật nhất là một cái giá sách khổng lồ khi đem so với kích thước căn phòng, bên trên chất đầy những cuốn sách cũ đến nỗi tôi không hiểu nổi Ả Đặng kiếm chúng ở đâu ra. Tôi bắt đầu cảm thấy bối rối vì trong phòng rõ ràng chỉ có hai đứa tôi mà thôi, không biết rồi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo đây.

          Tôi ngồi xuống cái ghế salon, cũng là lúc Ả Đặng rót cho tôi một ly nước đặt lên bàn, rồi bỗng nhiên nàng đóng sập cửa lại, kéo màn che kín cửa. Hành động này một lần nữa làm tôi hoảng loạn hơn. Trong đầu những suy nghĩ lung tung bắt đầu chạy qua vùn vụt. Rồi nàng ta bật đèn, đến ngồi đối diện tôi, nhìn tôi một cách chăm chú như bác sĩ thăm bệnh vậy. Dù rất muốn hỏi xem nàng ta muốn gì nhưng tôi không biết phải mở lời thế nào, bởi vì như các bạn biết rồi đấy, một lời nói vô duyên có thể phá tan nát hết các cơ hội của bạn, vậy nên tôi chỉ im lặng, chờ nàng đánh tiếng trước.

          “Chắc Nam thấy kì cục lắm đúng không, về hành động của Ả Đặng.” Cuối cùng nàng cũng nói, kèm theo một nụ cười có vẻ chế giễu những suy nghĩ trong đầu tôi.

          Tôi nhún vai, cười cười, chẳng lẽ bây giờ lại bảo đúng là kỳ cục thật.

          “Chuyện Ả Đặng muốn kể cho Nam nghe liên quan tới lý do tại sao Ả Đặng lại xuống thành phố đi học. Có thể sẽ hơi khó tin đấy.”

          Tới đây các bạn cho phép mình lưu ý rằng câu chuyện của nàng kể hôm ấy khiến tôi phải há hốc mồm kinh ngạc, đến tận ba ngày sau sự ngạc nhiên vẫn còn y nguyên. Đó là một câu chuyện nghe không khác gì truyện thần thoại, nhưng lại cũng rất giống truyện phiêu lưu, mà bảo là giống tiểu thuyết kì ảo chắc cũng chẳng sai.

          “Ả Đặng nói đi.” Tôi đáp. “Mà có cần phải kín đáo thế này không, sợ những ai biết trong phòng chỉ có hai đứa mình, họ sẽ… không biết Ả Đặng có hiểu không, người Kinh tụi mình thích bàn ra tán vào lắm.”

          Nàng cười một cách sảng khoái. “Ả Đặng hiểu bàn ra tán vào nghĩa là gì. Nhưng Nam yên tâm, trong này không có người Kinh đâu.”

          Tôi thì đương nhiên là yên tâm, vì là con trai mà. Với lại chuyện tôi có mặt ở đây chẳng có ai biết cả. “Vậy Ả Đặng nói đi.” Tôi nhắc nàng.

          Nàng lấy trên tủ sách một cuốn sách đặt lên bàn. Ấn tượng đầu tiên của tôi về cuốn sách là sự cũ kỹ, mà phải dùng từ cổ mới đúng, dày chắc phải bằng một viên gạch và to hơn khổ A4 một tí. Bìa sách màu đen xì không thấy có hình ảnh gì cả, mà cũng có thể có nhưng chắc là đã phai nhạt hết rồi. Chỉ có một dòng chữ khắc nổi là còn dễ dàng nhận ra, nhưng lại viết bằng một thứ ngôn ngữ tôi không đọc được, cũng không nhận ra được. Tiếng Việt thì chắc chắn không phải rồi, tiếng Anh cũng không, tiếng Tàu thì rõ ràng chẳng liên quan gì, mà tôi cũng chẳng bận tâm đó là tiếng gì, chỉ hỏi: “Sách gì vậy Ả Đặng?”

          “Là một cuốn sách Lịch Sử đấy Nam ạ, do người trong bản Ả Đặng truyền lại. Tựa đề của nó là ‘Kỷ An Dương Vương’.”

          “Kỷ An Dương Vương ư!?” Tôi ngạc nhiên nhắc lại tựa đề cuốn sách. Cái tên An Dương Vương nghe rất quen thuộc, tôi bèn cố lục lại trong trí nhớ những hiểu biết liên quan đến cái tên ấy, không nhiều nhưng cũng đủ để gom lại thành một câu trả lời. “Đó là một trong những vị vua đầu tiên của nước Việt.”

          Ả Đặng mỉm cười. “Phải rồi, tưởng Nam không biết luôn chứ!” Rồi nàng ta đẩy cuốn sách sang cho tôi ý bảo mở ra xem.

Tôi cũng tò mò mở ra xem. Cuốn sách làm bằng một chất liệu rất kì quặc, chẳng phải giấy, có lẽ là da thú, tôi nghĩ vậy, vì mỗi trang sách dày như bìa cac-tông và đúng là xưa như Trái Đất, thậm chí tôi còn có thể cảm nhận được sức nặng của thời gian trên đó nữa. Tuổi đời của nó có lẽ phải lớn lắm, nhưng lớn bao nhiêu thì tôi không sao đoán được, với tôi thì một trăm năm và một ngàn năm trong quá khứ chỉ khác nhau mỗi con số 0 khi viết ra mà thôi, không mang nhiều ý nghĩa lắm.

          Chữ viết trong sách đương nhiên tôi cũng không đọc được, nhưng chắc chắn là chữ viết tay và viết rất đẹp, ngay ngắn cứ như in vậy. May là còn có những hình vẽ. Có những hình chiếm cả một trang sách, hầu hết là hình chân dung và đã phai nhạt lắm rồi. Chân dung của những con người ăn mặc kì lạ, với những đường nét thân mình lẫn khuân mặt cũng kì lạ, tôi dễ dàng đoán rằng có lẽ là hình vẽ người ngày xưa. Dưới mỗi hình có chú thích, nhưng vô dụng đối với tôi. Ngoài ra còn có hình một số con vật, mà gọi là quái vật chắc đúng hơn, vì chúng có những hình thù rất quái dị không giống với bất cứ con vật nào tôi từng biết.

          Tôi lật cuốn sách một cách từ từ, khi đã xem được một phần ba thì tốc độ tăng lên, đến lúc hết nửa cuốn sách thì tôi lật vội cho chóng hết. Ả Đặng vẫn điềm nhiên ngồi quan sát tôi mà không nói gì. Sau cùng tôi gấp cuốn sách lại trả cho nàng, không biết phải nói thế nào.

          “Nam thấy thế nào?” Nàng nhìn tôi hỏi với một nụ cười như kiểu biết tôi đang nghĩ gì vậy.

          “Cuốn sách này chắc cũ lắm rồi, nguồn gốc thế nào vậy Ả Đặng?” Tôi hỏi, vì thật ra cuốn sách cũng gây ra cho tôi sự kích động mạnh mẽ. Tôi tin chắc rằng nội dung trong cuốn sách là một bí mật với tất cả những người thời nay. Và nếu đúng như tựa đề của nó, Kỷ An Dương Vương, thì cuốn sách có thể sẽ có giá trị lịch sử không nhỏ.

          “Không một ai biết đến sự tồn tại của cuốn sách này đâu,” Ả Đặng khẳng định điều mà tôi đã suy nghĩ trong đầu, rồi nàng giở trang đầu tiên ra chỉ vào hình một vẽ một người đàn ông chiếm hết cả trang sách. “Đây chính là người viết cuốn sách, là một vị Quan lang đời An Dương Vương. Phía dưới tên chính là năm cuốn sách được viết ra, An Dương Vương năm thứ nhất.”

          Vừa nghe tới đó tôi đứng bật dây, đôi mắt mở thao láo với vẻ ngạc nhiên đến kinh hoàng.

          “Ả Đặng bảo sao, cuốn sách này viết vào đời An Dương Vương, cách đây gần hai ngàn năm ư!” Tôi bày tỏ sự kinh ngạc của mình.

          Nàng ta hồn nhiên gật đầu như kiểu hai ngàn năm chỉ như hai chục năm vậy. Theo hiểu biết từ việc đọc sách bất cứ khi nào rảnh rỗi của tôi thì tài liệu lịch sử xưa nhất mà nước ta có được chính là bộ Đại Việt Sử Ký có từ thế kỷ thứ mười bảy. Với lại cuốn sử ấy cũng chỉ là người đời sau chép lại việc của người đời trước mà thôi. Ở đâu ra mà nàng ta bảo cuốn sách xưa như trái đất này có từ thế kỷ thứ nhất, và chép những sự kiện cùng thời với tác giả cơ chứ. Và nếu lời đó là thật thì nàng ta là ai mà lại sở hữu một tài liệu lịch sử xa xưa đến như vậy. Một mớ hoài nghi túa ra trong trí óc tôi như một tấm lưới, nhất thời tôi không nói được gì, để xem Ả Đặng chứng minh thế nào.

          “Chắc Nam khó tin lắm đúng không?” Nàng lại nói. “Nhưng đó hoàn toàn là sự thật. Tác giả cuốn sách này là nguyên tổ của dòng dõi nhà Ả Đặng đấy. Và nhà Ả Đặng chép sử nước Việt cho đến nay là trọn hai ngàn năm rồi.”

          Lần này thì tôi gần như đứng hình, nàng ta đang nói chuyện điên rồ gì thế này. Tôi ngạc nhiên tới mức không để ý là mình đã bị Ả Đặng kéo ngồi xuống ghế từ lúc nào. Nàng ta đợi cho tôi hoàn hồn, bắt uống cạn ly nước rồi mới nói tiếp: “Cuốn sách này là thứ cực quý, nhưng vì trong này có một đoạn văn quan trọng mà Ả Đặng phải cho Nam xem, nên mới mang ra đây.”

          Tôi chưa tiện truy vấn để bắt nàng chứng minh nguồn gốc cuốn sách, nhưng xem nàng thì không giống người nói dối cho lắm, với lại trông cuốn sách này quả thật đã rất xưa cũ rồi. Chợt tôi nảy ra một thắc mắc khiến tôi tin chắc rằng sẽ khiến Ả Đặng phải cứng họng: “Thời đó chưa có giấy, chữ viết của nước ta cũng chưa có, vậy lấy đâu ra cuốn sách này!?”

          Trái với tưởng tượng của tôi, nàng ta vẫn tươi cười đáp: “Nam thắc mắc hay lắm. Thứ nhất cuốn sách này không làm bằng giấy, nó đóng bằng da trâu đấy. Thứ hai ai bảo Nam là thời đó nước ta chưa có chữ viết. Quan lang nhà Ả Đặng đã dày công nghiên cứu ra loại văn tự này để chép sử, đây chính là loại chữ đầu tiên mà nước Việt ta sử dụng đấy, hoàn toàn không phải chữ Tàu đâu.”

          Tôi bán tín bán nghi lời Ả Đặng, nhưng cũng không tiện phản bác, cũng chẳng biết phải phản bác thế nào, với lại cũng đang tò mò muốn nghe xem nàng ta sắp nói gì.

          “Vậy đoạn văn đó nói gì mà lại quan trọng, nhất là tại sao lại quan trọng với Nam.” Tôi hỏi nàng, cố gắng diễn đạt một cách tự nhiên.

          Nàng lật mấy trang đầu cuốn sách rồi chỉ vào một đoạn văn, những cột chữ ngay ngắn nhưng vô nghĩa với tôi.

          “Cuốn sách này là tập thứ nhất trong số bốn mươi chín tập chép về Kỷ An Dương Vương.” Nàng giải thích. “Trong tập này ghi lại những sự kiện lớn vào đời các Hùng Vương những năm trước đó. Và đoạn văn này là đoạn cực kỳ quan trọng, Ả Đặng đọc cho Nam nghe nhé.”

            Tôi vội ngăn lại bảo: “Khoan đã, để Nam viết lại, vì Ả Đặng bảo là quan trọng mà phải không.” Rồi tôi lấy tập vở ra sẵn sàng viết. Và đây tôi xin chia sẻ với các bạn đoạn văn mà Ả Đặng dịch cho tôi nghe, không thêm bớt một câu từ nào. Đến giờ tôi vẫn còn kinh ngạc trước đoạn văn này.