Chương 11: Vãn cảnh trên Hồ Sen

Like & Share:

Kiến trúc cung điện của vua Hùng chia làm ba phần lớn. Khu công trình trung tâm là nơi hội họp bá quan văn võ, nơi ở cho vua và con cháu. Khu công trình phía đông là nơi ở của Quan lang cùng các tòa nhà làm việc của ông. Quan lang có chức năng rất quan trọng trong bộ máy cai trị của vua Hùng, đóng vai trò là nhà cố vấn, nhà quân sự, sử gia, tổng quản, gần như là kiêm mọi công việc, là cánh tay phải của nhà vua. Khu công trình phía tây là cho gia đình Chử Đồng Tử, cũng là Tổng Binh lo việc quân sự của đất nước. Như vậy hai bộ phận tối cao về văn và võ đề cạnh nhà vua, bất kì lúc nào cần là sẽ có mặt.

            Đêm xuân bầu trời quang đãng, muôn sao lấp lánh giăng giăng trên bầu trời, vầng trăng lưỡi liềm thấp thoáng hiện ra cuối chân trời. Đêm về khuya thinh lặng như tờ, mấy hôm nay tin tức về các điềm báo chẳng lành lan khắp đất nước khiến dân tình hoang mang, theo phản ứng cứ trời tối là nấp hết vào nhà, không ai dám ra đường vui chơi nữa cả. Quan Lang ở trong thư phòng, đăm chiêu nhìn một cuốn sổ bọc vàng óng ánh kê trên một cái giá rất cầu kì trang trọng. Ánh mắt ông có phần đăm chiêu, nét mặt nhăn lại. Con trai ông đứng phía sau thấy bố mình bất động đã hàng giờ trước quyển sổ, sốt ruột nói: “Bố muốn tìm gì trong đó.”

            Quan lang buông tiếng thở dài nói: “Quyển sổ Đế vương này luôn đóng kín, chiều nay khi ta vào phòng thì thấy nó đã mở ra từ bao giờ. Đấy là dấu hiệu cho thấy sắp có sự thay triều đổi đại, và là một sự thay đổi lớn lao. Ta sợ rằng lần này giặc phương bắc tràn xuống nước ta sẽ không chống được. Khi tất cả các nước chư hầu phương ấy gom lại thành một mối thì thử hỏi mạnh đến mức nào.”

            Người con nói: “Vậy trong sổ đã hiện tên của vị vua kế tiếp chưa bố?”

            Quan Lang nói: “Không thấy có, điều ấy lại càng làm to thêm lo. Chẳng lẽ nước Văn Lang sắp tới sẽ không có vua ư, phải chịu là một châu, một quận của người phương Bắc ư!” Ông thở dài thườn thượt.

            “Bố đừng lo lắng quá, nước Văn Lang ta đã được định rõ địa phận, không khi nào lại bị thôn tính được. Huống chi cuộc chiến sắp tới ta đã tiên đoán trước mà có sự chuẩn bị.”

            Quan lang rời mắt khỏi quyển sổ, dạo mấy bước quanh phòng nói: “Thôi thì trông vào ý trời vậy, con người chỉ có thể cố hết sức mình thôi, tới được đâu thì tới.”

            Vừa lúc ấy thì có kẻ hầu gõ cửa thưa: “Bẩm quan có phò mã đến.”

            Quan lang cùng con trai ra tới phòng khách thì Chử Đồng Tử đã ở đó. Đôi bên chào hỏi lẫn nhau. Quan lang mời khách dùng nước nói: “Vẫn chưa tới giờ, sao phò mã lại đến sớm vậy?”

            Chử Đồng Tử đáp: “Ta nên đến sớm, có gì hai chúng ta bàn bạc trước để một lát thưa lại với vua. Sao vua lại hẹn gặp ở nhà ngài, mà không phải trong điện.”

            “Có lẽ cuộc gặp này cần được giữ bí mật tuyệt đối, Quan lang nói, vua có lí do của ngài”.

            Chử Đồng Tử uống cạn chén trà, tỏ ra hơi lưỡng lự: “Có việc này ta muốn nói cho ngài hay”

            Quan lang nhấp trà nói: “Có gì xin phò mã cứ nói thẳng, giữa chúng ta không cần nhiều lời.”

            Chử Đồng Tử bèn trình bày: “Năm ấy ta vâng lệnh vua đi chiêu hàng Dao tộc ở mạn Tân Hưng, trên đường đi có gặp một lão đạo sĩ sống ở trên núi. Ta có ngồi nói chuyện với lão ta. Lão ta là người rất kì lạ, biết ta là phò mã, lại biết cả chuyện ta đang đi về biên giới. Nhưng điểm kì lạ nhất là khi chia tay ra về lão có nói rằng mười năm sau giặc phương bắc sẽ tràn xuống phương nam gây một trận binh lửa khốc liệt, nước nam có giữ được hay không chính là ở trận chiến này. Chẳng ngờ lời ấy nay sắp thành sự thật, vậy nên ta mới bỗng nhớ tới.”

            Quan lang bèn nói: “Người tài trong thiên hạ rất nhiều, có một đạo sĩ ẩn cư như vậy kể cũng không phải là lạ. Tiếc là những người như thế lại chỉ sống cô lập, không ra giúp đời.”

            Chử Đồng Tử nói tiếp: “Lạ nhất là ông ta còn tặng cho ta hai đồ vật. Một là cây sáo này và cái kia chính là túi vải này. Nói rằng đúng mười năm sau khi nào nghe thấy một con chim Lạc kêu lên ba hồi thì mở túi vải ra, còn cây sáo thì khi nào trở lại hãy thổi thì sẽ gặp được lão.” Vừa nói chàng vừa bày hai vật ấy ra bàn.

            “Lại có người kì lạ thế sao.” Quan lang nói và cầm xem hai vật ấy.

            “Ta có nên mở cái túi ấy ra xem không?” Chử Đồng Tử đề nghị.

            Quan lang bèn đáp: “Tuyệt đối không nên, trước tiên là ngài đã hứa làm theo lời người ấy, thứ đến là ông ta hẹn mười năm nhất định là có lí do. Trong cõi trời đất này, nhân duyên là điều rất mầu nhiệm, xem ra người này đã thấu được nguyên lý ấy của vũ trụ. Ta cứ để thời gian trả lời xem sao. Nhân vật này tự xưng là ẩn cư cả đời trên núi hoang mà lại có thể thấu được sự đời trong mười năm tiếp theo, vậy thì phải xếp vào bậc thánh. Ông ấy còn nói gì nữa không?”

            Chử Đồng Tử ngẫm nghĩ đáp: “Hết rồi, chỉ có thế thôi.”

            Quan Lang nói: “Phò mã cứ giữ hai vật ấy cẩn thận, xem ra tương lai sẽ còn gặp lại vị thánh nhân kia.”

            Hai người nói tới đây thì Hùng Vương đến, các bên lại lục tục hành lễ rồi kéo cả vào trong một phòng kín bàn chuyện.

            Hùng Vương vào thẳng đề tài: “Về chuyện bàn kế cho cuộc chiến sắp tới, ta muốn bàn riêng với hai người. Trong số các vị lạc tướng, ta thật sự không thể tin hết được tất cả. Hai người cũng biết liên minh Lạc Việt ta thành lập đã được ba đời vua, trong khoảng thời gian ấy không xảy ra chiến sự gì lớn, nhất là với phương bắc, vì các nước chư hầu phương ấy còn mải chém giết lẫn nhau. Cũng vì cảnh thanh bình ấy nên các bộ tộc trong liên minh sống với nhau hòa thuận, không xảy ra chuyện gì. Nhưng ta vẫn biết trong số họ có những kẻ tham vọng muốn chiếm vị trí thủ lĩnh của liên minh, e rằng nhân chuyện binh biến lần này mà cấu kết với giặc rồi đẩy dân ta vào chốn lầm than. Hai người nghĩ sao?”

            Quan lang cúi đầu xin phép rồi nói: “Điều bệ hạ nghĩ cũng là điều tôi lo sợ. Không một tập thể nào đoàn kết hoàn toàn, nhất là một liên minh gồm những tộc người rất khác nhau như Lạc Việt chúng ta. Trong số mười lăm tộc người của liên minh thì có một số là những tộc người có nguồn gốc ngoại lai, không chung gốc Việt với ta. Số tộc người còn lại thì bản thân mỗi tộc cũng là tập hợp từ rất nhiều các tộc người nhỏ khác trong số Bách Việt, rất hỗn loạn. Cứ bình thường thì mọi chuyện đều yên ổn, nhưng khi xảy ra loạn lạc thì khó nói trước được điều gì.”

            Chử Đồng Tử nói: “Hổ Tộc ở bộ Tân Hưng do Thục Chế cầm đầu vốn là di dân từ phương Bắc xuống đất ta, liệu hắn có thật lòng đoàn kết với Lạc Việt ta không.”

            Quan lang bàn: “Cha của Thục chế, không rõ danh tính, là một chi thuộc dòng dõi vua chúa nước Thục phương Bắc, ngày xưa không rõ vì lí do gì mà kéo hết con cháu họ hàng, tùy tùng, binh lính, nô lệ chạy nạn về phương nam ta rồi định cư lại ở bộ Vũ Định, vừa chiêu dụ vừa thôn tính các tộc người nhỏ lẻ chung quanh, cứ thế mà lớn mạnh dần. Ban đầu cha của Thục Chế tự xưng là vương, gọi vùng mình cai quản là nước Nam Cương. Sau đến đời Thục Chế thì hắn chủ động xin thần phục Văn Lang ta, không xưng là vương nữa nhưng đổi tên nước thành Hổ tộc, còn mình làm Tộc trưởng rồi từ đó gia nhập vào liên minh Lạc Việt. Hắn có hai người con, một trai một gái, trai tên là Thục Phán đã trưởng thành, gái tên là Thục Hy nay tròn mười tám. Có thể thấy Thục Chế sợ uy của nước Văn Lang ta nên mới không dám xưng vương nữa và tham gia vào liên minh Lạc Việt, đây là kẻ rất có cơ mưu và lòng dạ khó đoán.”

            Hùng Vương nói: “Trong số các tộc người thì Hổ tộc là lớn nhất, Thục Chế cũng là kẻ có thế lực nhất. Ta lo nhất là hắn. Quan Lang, ta có chuyện này muốn đích thân ông đi làm.”

            Quan lang vội vã cúi người nói: “Bệ hạ cứ nói.”

            Hùng Vương bước đến gần cố vấn của mình nói: “Trong một năm tới ông hãy đi tuần hành lên bộ Vũ Định và bộ Lục Hải để nắm rõ tình hình các tộc người trên ấy. Ta muốn việc chuẩn bị kháng quân xâm lược phương bắc phải chu đáo hết sức trong khả năng có thể, không được xảy ra thiếu sót gì.”

            Quan lang lại kính cẩn đáp: “Đó là điều tôi cũng đang nghĩ tới. Vậy sẽ theo lời bệ hạ mà làm.”

            Hùng Vương tiếp: “Trong thời gian ông vắng mặt thì các việc trong triều sẽ do con trai ông đảm trách. Chử Đồng Tử, ta muốn con bí mật huấn luyện một đạo quân tinh nhuệ. Đạo quân ấy trực tiếp chịu sự chỉ huy của ta để dùng vào những việc cần thiết. Ngày mai ta sẽ cho các lạc tướng trở về tộc của mình. Trong vòng một tháng Quan lang hãy sửa soạn lên đường.”

            Gần kinh thành Văn Lang có một cái hồ rất lớn. Vì trên hồ sen nở quanh năm nên gọi là Hồ Sen. Cạnh hồ có một ngọn núi nhỏ soi mình xuống làn nước, trên núi mùa này hoa đào nở rộ, đỏ rực một sườn non. Phong cảnh núi hồ hòa quyện vào nhau vừa hữu tình lại vừa nên thơ. Buổi sáng hôm ấy tiết trời xuân se lạnh, mưa phùn bay phất phới tạo thành một bức màn bàng bạc phủ lên mặt hồ. Cả một làn nước mênh mông trống trải điểm bóng một con thuyền nhỏ lờ lững giữa rừng sen. Đứng ở đầu thuyền là một chàng thanh niên tuấn tú, mình khoác một tấm áo choàng bằng lông thú, che một cái ô lớn để tránh mưa. Kể cũng lạ, trên thuyền có mái che mà chàng lại không vào, cứ đứng ở mui thuyền, mắt dõi ra mặt hồ bát ngát hoa sen như tìm kiếm thứ gì đó, nét mặt đượm vẻ sốt ruột.

            Có tiếng khuy nước từ xa truyền lại. Một con thuyền nhỏ rẽ những tàn sen chầm chậm tiến về phía chàng, đứng ở mui thuyền là một cô gái. Chưa nhìn rõ mặt nhau nhưng cả hai đã cùng nở một nụ cười mãn nguyện. Hai thuyền gặp nhau giữa mặt hồ. Cô gái cho người chèo thuyền đi vào bờ, còn mình thì nhảy sang thuyền chàng trai. Đôi bên tình tứ nhìn nhau và lại nở nụ cười duyên.

            Bỗng chàng trai hốt hoảng nói: “Trời lạnh thế này mà nàng không mang áo khoác sao?” Rồi chẳng để nàng kịp trả lời, chàng cởi luôn cái áo lông thú của mình khoác lên người nàng. Nàng e thẹn đón lấy, khẽ nép mình vào trong tấm áo, không rõ là để cảm nhận hơi ấm của nó hay của chính chàng trai.

            “Khi nãy trên bờ hồ em thấy có hai mẹ con nọ đang co ro trong một góc chòi nên em cho họ tấm áo của mình rồi.” Nàng dịu dàng đáp. “Chàng chờ em có lâu không?”

            Tuy là đã đợi từ lúc sáng tinh mơ, tới bây giờ mặt trời đã cao bằng con sào, nhưng chàng trai vẫn vui vẻ đáp: “Không lâu, ta mới chỉ đến đây từ sáng sớm nay thôi.”

            “Từ sáng sớm ư!, nàng giật mình, giọng nói lại có phần trách móc, em hẹn chàng đến khi mặt trời lên cao hẵng ra, chàng ra chi mà sớm vậy.”

            “Ta muốn khi nàng đến đây thì đã thấy ta rồi, chàng lại vui vẻ giải thích, với lại cảnh hồ thật đẹp, chỉ sợ khi về lại miền núi rừng nơi ta sống sẽ chẳng còn được thấy nữa. Tối hôm qua cha ta đã báo là chiều tối mai sẽ khởi hành về lại tộc của mình.”

            “Chiều tối mai ư? nét mặt nàng trầm xuống, giọng nói pha lẫn hoang mang, nhanh đến thế sao!? Chẳng phải chàng nói vua Hùng muốn các lạc tướng lưu lại ít lâu để bàn chuyện chống giặc ư?”

            Chàng trai nhìn vào đôi mắt long lanh như giọt sương mai của nàng, có lẽ muốn lắm nhưng hình như chàng chưa dám đưa tay chạm vào đôi má ửng hồng dưới cái lạnh buổi sớm ấy. “Sáng qua vua Hùng triệu các lạc tướng lại bàn chuyện, nói rằng việc khẩn cấp trước mắt là tuyển quân và luyện quân, vậy nên các lạc tướng phải gấp rút về lại tộc của mình để chiêu mộ binh lính, xây dựng lực lượng càng đông càng tốt. Hẹn rằng ngay khi phương bắc có dấu hiệu xâm lấn tất cả sẽ cùng hội quân lại để kháng địch.”

            “Ra là vậy, nàng khẽ quay mặt ra nhìn một đóa sen nói, bộ Vũ Ninh nằm mãi về vùng cực bắc của đất nước, rừng núi cách trở thật xa biết bao.”

           Chàng bước lên mấy bước, song vai đứng cùng nàng ngắm hoa sen nở nói: “Chắc chắn ta sẽ còn quay lại đây, và sẽ không xa đâu. Hay là… hay là…” Chàng gần như cố ý bỏ lửng câu nói như muốn tạo ấn tượng rằng điều chàng muốn nói là điều khiến chàng rất băn khoăn.

            Đương nhiên nàng hỏi: “Hay là thế nào?”

            Chàng bèn bày tỏ mong muốn của mình: “Hay là… nàng đi cùng ta.”

            Nàng giật thót mình nói ngay: “Không được, tuyệt đối không được!”

            Chàng tiu ngỉu nói: “Ta biết yêu cầu này thật quá đáng, vậy thôi xem như ta chưa nói gì. Nhưng ta thắc mắc sao nàng không nói cho ta biết nàng là ai, con cháu nhà nào nhỉ?”

            Nàng quay sang nhìn chàng kèm theo một nụ cười mỉm đầy duyên dáng và đôi mắt ngập tràn trìu mến: “Tự nhiên sẽ có lúc chàng biết thôi.”

            Nàng chưa dứt lời thì một cơn gió mạnh tràn qua hồ thổi đám sen nghiêng qua một bên. Cơn gió thổi lên sườn núi làm cho rừng đào đang nở rộ trên ấy tung bay mịt mù. Muôn ngàn cánh đào đỏ thắm nương theo chiều gió bay lả tả xuống mặt hồ tạo thành một cơn mưa hoa rực rỡ đất trời. Đôi nam nữ phút chốc ngập chìm giữa muôn hoa. Nàng thốt lên với vẻ mặt rạng ngời: “Chàng nhìn xem, đẹp quá.”

            Trước sự rực rỡ của thiên nhiên và nét đép thoát tục của cô gái trước mặt, cộng với tình yêu đang dâng tràn trong lòng, cuối cùng chàng cũng đánh bạo nắm lấy bàn tay thon ngọc ngà của nàng. Khoảnh khắc ấy đôi bên đều lặng cả đi. Mãi một lúc sau, có lẽ khi nhận thấy mình cũng không nên dễ dãi quá, nàng mới khẽ giật tay ra khỏi tay chàng, làm như chưa có chuyện gì xảy ra, nói: “Ta dạo thuyền quanh hồ chăng?”

            Chàng vui vẻ đồng ý và ngồi về một đầu thuyền khua mái chèo đẩy con thuyền trôi đi. Nàng ngồi phía đầu bên kia, tay che dù, dõi mắt chiêm ngưỡng kì quan của tự nhiên. Nhưng đôi mắt ấy, vẫn kín đáo và thường xuyên hướng về phía chàng trai trước mắt, và bất cứ khi nào nàng làm thế đều bắt gặp ánh mắt tràn ngập trìu mến của đối phương khiến nàng phải đỏ mặt e thẹn.

            Đôi nam nữ ấy chính là Thục Phán và Mỵ Nương. Kể từ lần gặp nguy trên cỗ xe ngựa hai người cảm thấy gắn bó với nhau, và dù chẳng hẹn nhưng ngày nào họ cũng tự động tìm đến con đê nhỏ chạy dọc con sông ấy. Từ hôm ấy đến nay đã trọn năm ngày, và đây là cuộc hẹn chính thức đầu tiên của họ do Mỵ Nương đề nghị, nàng nói thế này: “Gần đây có một hồ sen đẹp lắm nhưng ta chưa đi bao giờ vì không có bạn, giá như có người chịu đi cùng ta để ngắm một lần.”

            Chàng chỉ đợi có thể bèn nhận lời ngay: “Ta cũng có nghe về hồ sen ấy, hay mai ta sẽ đợi nàng ở đó nhé.”

            Mỵ Nương e thẹn nói: “Em không biết ngày mai liệu có ra được không, chỉ sợ chàng chờ uổng công.”

            Thục Phán hồ hởi: “Không, không uổng công đâu. Dù đợi cả ngày mà không gặp thì ta cũng vui vì đã được đợi nàng.”

            Và nàng chốt giờ hẹn: “Vậy ngày mai khi mặt trời lên tới con sào thì em sẽ ra, nhưng em không hứa trước đâu nhé.”

            Thục phán khua nhẹ mái chèo, con thuyền len giữa những tán sen xanh biếc và những những bông sen đỏ rực tiến ra xa giữa lòng hồ. Chàng ngâm mấy câu thơ:

Hoa rụng tơi bời trước gió xuân

Hồ sen muôn vạn giọt hoa đào

Thiếu nữ đầu thuyền bâng khuâng ngắm

Để gã thuyền phu nát cả lòng

Bất giác nàng đáp lại:

Cảnh đẹp hỏi được mấy thời vui

Bên nhau được mấy khắc sum vầy

Thuyền phu gác mái chèo về núi

Ai cùng thiếu nữ dạo hồ sen?

Rồi hai người im lặng, để mặc con thuyền cứ thế trôi đi.

Bỗng phía xa đằng trước xuất hiện mấy chấm đen chao động trên mặt hồ, nhưng chấm đen ấy dần hiện ra là ba con thuyền tương đối lớn, không phải thuyền để vãn cảnh hồ như của Thục Phán với Mỵ Nương.

Mỵ Nương nói: “Thuyền gì thế nhỉ?”

Thục Phán đáp: “Có lẽ là của những người đi chơi hồ chăng.”

Mỵ Nương nói: “Ít người đi chơi hồ lại dùng thuyền lớn vậy, vì sẽ càn chết hết sen, chẳng hiểu họ là ai. Hay ta lại hỏi thử.”

            Thục Phán đồng ý và chèo về hướng ba con thuyền ấy. Bỗng Mỹ Nương thốt lên: “Ôi chàng xem kia, có người vừa nhảy xuống hồ.”

            Thục Phán hồi hộp nói: “Không phải nhảy xuống đâu, người đó bị giết chết rồi quăng xác xuống hồ đó.”

            Mị Nương kinh hãi nói: “Là giết người ư, còn ném xác xuống hồ ư? Chuyện này thật tày đình, chàng mau lại đó ta hỏi cho ra lẽ. Bọn chúng là ai mà dám ngông cuồng đến vậy?”

            Qua lớp mưa phùn lãng đãng Mỵ Nương nhận ra một gã đứng trên chiếc thuyền lớn phía đằng trước hình như đang nhìn chằm chằm vào nàng. Tiếp theo hắn báo động cho mấy kẻ nữa. Trong thoáng chốc trên ba chiếc thuyền xuất hiện rất nhiều người lăm lăm vũ khí trong tay. Những con thuyền ấy còn cách thuyền của Mị Nương một đoạn khá xa nên nàng không trông rõ mặt những kẻ ấy.

            Thục Phán nói: “Không ổn rồi, chúng đông quá, hình như muốn giết cả chúng ta để bịt miệng thì phải. Ta chạy đi thôi.” Nói rồi chàng quay thuyền cố chèo thật nhanh về phía bờ.

            Mị Nương thốt lên: “Chúng có cung tên!” Lời vừa dứt thì một trận mưa tên rào rào ụp xuống đầu hai người. Thục Phán nhảy phóc một cái đã sang bên phía Mị Nương, quàng tay ôm lấy nàng vào lòng, tay kia thì vung mái chèo gạt tên ra.

            Ba con thuyền kia xả tên xong bèn tiến về phía hai người, chừng như muốn bắt sống. Thục Phán lại cố sức chèo để tấu thoát. Rồi lại một trận mưa tên nữa trút xuống. Lần này Mị Nương đã có chuẩn bị chu đáo hơn, nàng đã tháo cái mái che bằng phiên gỗ của con thuyền nhỏ làm lá chắn, nên tạm thời những mũi tên chưa làm gì được.

            Sau một hồi truy đuổi thì ba con thuyền kia cũng dừng lại, trở thuyền ra giữa hồ rồi bỏ đi, có lẽ vì chúng phát hiện ra đã đến gần bờ, có đuổi nữa cũng vô ích.

            Thục Phán và Mị Nương leo lên bờ thở dốc một hồi, rồi hai người nhìn nhau, ánh mắt pha lẫn rất nhiều cảm xúc, vừa hoang mang, vừa hạnh phúc. Hoang mang vì tình thế khi nãy quá nguy hiểm, nếu như khoảng cách giữa họ với ba con thuyền kia gần hơn một chút nữa thì khó lòng mà thoát được. Còn hạnh phúc vì cả hai lại một phen sinh tử có nhau. Mị Nương rất cảm động khi hồi tưởng lại Thục Phán đã lấy thân che cho mình trước trận mưa tên. Không nói không rằng nàng sà vào lòng chàng như sự vỡ òa của cảm xúc.