Chương 10: Ba ngọn núi Mường

Like & Share:

Làn hương tan dần, tôi mở mắt và thấy chung quanh đuốc đã sáng. Tụi bạn của tôi cũng đều tỉnh cả. Chẳng ai nói ai câu gì nhưng tất cả đều có cảm giác là vừa thực hiện một chuyến phiêu lưu ngược dòng thời gian, như sống trong chính câu chuyện của Quan lang.

            Thằng Sang lên tiếng trước: “Sao Quan lang không kể tiếp, liệu nước Tần hay Tàu gì đấy có đúng là sẽ xâm lược phương nam như mấy cái điềm báo nói không, dân Văn Lang có chống được họ không? Với lại… với lại… với lại con định hỏi cái gì nữa mà quên mất rồi.”

            Tôi khẽ ho một cái nhắc cái thằng lúc nào cũng sồn sồn cả lên ấy rằng phải giữ lễ phép, chẳng biết nó có hiểu không nhưng nghe thấy tôi ho nó cũng im. Quan lang gấp cuốn sách mỉm cười nói: “Hai tiếng buổi sáng đã hết, mấy đứa có thể đi đầu tùy ý, trưa quay lại đây dùng cơm rồi ta sẽ kể tiếp hai tiếng buổi chiều. Giờ thì ra ngoài cả đi.”

            Thằng Sang có vẻ cụt hứng, nhưng được ra ngoài thì cũng là một thú vui nên nó nhanh chóng tỏ vẻ vui sướng. Rồi bọn tôi theo Ả Đặng ra khỏi hang. Nàng nói: “Phía sau hang này phong cảnh rất đẹp, để Ả Đặng dẫn các bạn đi xem.”

            Chúng tôi theo nàng vòng ra sau núi, đúng là nơi đây tầm nhìn rất rộng, cả một khoảng trời đất núi đồi mênh mông hiện ra trước mắt. Cả bọn cùng leo lên một tảng đá cao ngất, có thể xem là một cái đài vọng cảnh tự nhiên, để xem cho thỏa thích. Thằng Hùng không cưỡng được vẻ đẹp của tự nhiên lấy máy ảnh chụp lia lịa, hết chụp cảnh lại chụp người. Chỉ riêng hình chúng tôi chụp trên tảng đá ấy chắc cũng đủ làm thành một cái album xem cả năm không hết. Chụp hình chán chê rồi chúng tôi mới tập trung nghe Ả Đặng giới thiệu và ngọn núi này. Nàng chỉ tay về phía trái, nơi ấy có một ngọn núi khác, thấp hơn ngọn núi chúng tôi đang đứng, nói: “Ngọn núi ấy tên là Mường Ma, rồi chỉ ngọn bên phải nói, còn ngọn bên này tên là Mường Trời, ngọn núi chúng ta đang đứng là núi Mường Người. Ba ngọn núi được đặt tên theo quan niệm tín ngưỡng của người Mường. Mường Ma là nơi dành cho người chết, trên ngọn Mường Ma ấy có thờ vong linh của tất cả Quan lang các đời. Mường Trời là nơi dành cho thần thánh, trên ngọn Mường Trời có thờ vua Dịt Dàng của người Mường, cùng nhiều thần thánh khác. Còn Mường Người thì nghe tên các bạn cũng biết rồi, là nơi cho con người sinh sống. Ngọn Mường Người chúng ta đang đứng đây là nơi Quan lang đương nhiệm cư trú. Ba ngọn núi này tuy cách nhau khá xa nhưng có hang thông với nhau, đi lại rất tiện, chỉ có Quan lang với những người có chức sắc trong bản mới được phép lui tới hai ngọn núi kia để lễ bái. Trên ngọn Mường Ma có một cây cổ thụ rất lớn, các cậu nhìn xem có thấy không?”

            Chúng tôi vội vàng nhìn sang, quả nhiên trên đỉnh núi có một cây cổ thụ khổng lồ, tán lá um tùm xanh biếc che rợp một khoảng không. Thằng Hùng nháy máy liên tiếp mấy cái để thu lại hình ảnh ấy. Ả Đặng tiếp: “Cây đó gọi là cây Chu Đá. Vào thu, lá của nó sẽ chuyển hết sang màu đỏ ối rồi rụng dần. Đó chính là thời điểm làm lễ cúng các vong hồn Quan lang trên ngọn núi ấy. Các cậu ở đây thế nào cũng sẽ được chứng kiến cảnh tượng ấy, vì chỉ còn hai tháng nữa thôi. Giờ các bạn lại nhìn sang ngọn Mường Trời, cũng có một cây cổ thụ y hệt như vậy.”

            Chúng tôi lại đua nhau nhìn sang ngọn núi bên phải, ngọn ấy cao hơn ngọn chúng tôi đang đứng, đúng là có một cây cổ thụ khác quy mô không kém cây Chu Đá bên núi kia. Ả Đặng lại giới thiệu: “Cây đó gọi là cây Chu Đồng, quanh năm xanh tốt không rụng lá bao giờ.”

            Thằng Sang lại chen vào: “Tớ cứ tưởng đến khi lá nó rụng là lúc các cụ trên trời đòi ăn cúng chứ.”

            Thủy Ngân mắng: “Cái ông kia, ăn nói kiểu gì kì cục.”

            Thằng Hùng đang bận nháy máy cũng chen vào: “Coi chừng người ta cho mày sang ngọn Mường Ma ở bây giờ đấy.”

            Ả Đặng cười rồi giải thích: “Cây Chu Đồng tuy không rụng lá nhưng lại có đặc điểm khác. Một tuần sau khi lá của cây Chu Đá bên kia rụng hết sẽ có một đàn chim trắng rất đông kéo nhau bay về trên ngọn Chu Đồng và ở đó trong ba ngày, năm nào cũng thế. Dân trong bản gọi đó là các thần thánh trên trời ghé xuống thăm. Vậy nên đó cũng là thời điểm bản Ả Đặng làm lễ cúng trời trên đỉnh Mường Trời ấy. Năm nay các bạn sẽ được chứng kiến cả hai lễ cúng lớn của dân bản.”

            Vẫn là thằng Sang đặt thắc mắc: “Ơ thế trên đỉnh Mường Người này không có cái cây nào à.”

            Câu hỏi bỗng làm nét mặt Ả Đặng sa sầm xuống, có một nét kinh hãi thoáng qua trong mắt nàng nhưng tan đi rất nhanh, chỉ có tôi vẫn luôn để ý đến nàng nên mới bắt gặp biểu cảm ấy. Nàng nở nhanh một nụ cười nói: “Trước cũng có nhưng đã chặt đi rồi.”

            Thủy Ngân hỏi: “Cây cổ thụ như vậy, sao lại nỡ chặt đi.”

            Ả Đặng bỗng nhiên tỏ ra lúng túng không biết trả lời sao. Tôi hiểu ngay ra vấn đề. Cái cây bị chặt đi có lẽ là một chuyện không nên nhắc tới, hoặc một chuyện cấm kị kiểu gì đó trong bản. Ả Đặng không muốn kể ra. Nhưng khổ nỗi nàng ta lại không nói dối bao giờ, nên nghe hỏi nhất thời chưa biết đáp thế nào. Tôi bèn đỡ lời: “Chắc mưa to gió lớn làm cây bị đổ nên phải chặt đi đúng không. Núi cao thế này thì gió to lắm.”

            Thằng Sang chen vào: “Nói thế mà cũng nói, đổ thì cái cây trên cao kia phải đổ trước chứ.”

            Thủy Ngân hiểu ý tôi, liền mắng: “Cái ông kia bớt nói một tí được không. Nãy nghe kể chuyện giờ còn nhớ gì không hay gió núi cuốn đi sạch cả rồi.”

            Thằng Sang nói ngay: “Bà quên thì có, tui còn đang chờ chiều nghe tiếp đây. Đang hóng Mị Nương với lại Thục Phán đến với nhau.” Nói xong cười sằng sặc.

Năm người chúng tôi rủ nhau dạo quanh núi hái hoa bắt bướm, chụp ảnh tán dóc, ai cũng rất hào hứng. Tôi đi gần Ả Đặng hỏi nàng ta: “Chuyện Quan lang kể chắc Ả Đặng đã nghe rồi phải không?”

            Nàng đáp: “Chưa đâu Nam à. Ả Đặng có đọc qua thôi, chứ còn được nghe theo cách kể sống động của Quan lang thì đây là lần đầu tiên. Gọi là nghe ké với mọi người đấy.” Nàng cười, để lộ ra hai núm đồng tiền duyên dáng và đôi mi lá liễu uốn lên một cách mềm mại. “Nam thấy thế nào?”

            Nó ngẫm nghĩ rồi đáp: “Nói sao nhỉ, đây không phải là nghe kể lịch sử, nhưng là ‘sống trong lịch sử’. Rất thú vị. Nhưng Nam vẫn chưa nghe Quan lang nói về Bia Trời.”

            “Cái đấy cứ từ từ, tự khắc Quan lang sẽ nói.”

Ả Đặng vừa nói xong thì tôi nghe tạch một phát, thằng Hùng đã cầm máy ảnh đứng ngay trước mặt cười nham nhở: “Đẹp đôi nhá!”

“Có cơm chưa ấy nhỉ?” Tiếng thằng Sang vang lên. “Mắt hoa hết lên rồi, nhìn cỏ cây ra đủ các thứ màu.”

Ả Đặng cười: “Cũng đến giờ ăn rồi đấy, chúng ta về hang thôi.” Nói rồi chúng tôi lục tục kéo nhau đi.

Mặt trời đã lên trên đỉnh đầu, tỏa ánh nắng gay gắt  xuống núi đồi. Con sông phía dưới thung lũng ánh lên muôn vàn tia sáng bạc, lấp lánh như một dải đèn. Nhưng có gió thổi mạnh, với lại con đường dẫn về hang có bóng cây che phủ nên chúng tôi cũng không thấy nóng lắm, trái lại cảm giác rất dễ chịu, khoan khoái. Trưa miền núi mang một sự yên tĩnh rất thanh bình và vắng vẻ. Dóng mắt nhìn về phía đỉnh Mường Trời, thấy cây Chu Đồng trên ấy đang đung đưa trong gió, như thể vẫy chào mời gọi chúng tôi.

Về tới cửa hang chúng tôi thấy có mấy trai bản đang đứng đó, họ ngăn chúng tôi lại nói: “Tộc trưởng, Thầy mo, Thầy giáo, Thầy võ, Thầy thuốc đang nói chuyện với Quan lang, các người đứng chờ ngoài này.”

Ả Đặng tỏ ra sốt ruột hỏi: “Có việc gì quan trọng mà tất cả mọi người đều lên đây giữa buổi trưa thế này?”

Anh trai bản nói: “Bọn tôi không biết, chỉ biết là phải đứng gác ở đây, Ả Đặng xin đừng hỏi nhiều.”

Sáu người chúng tôi kéo ra một gốc cây ngồi bàn tán. Tôi thấy Ả Đặng có vẻ lo lắng bèn hỏi: “Ả Đặng không yên tâm ư?”

Nàng đáp: “Cả năm người lớn nhất trong bản chưa bao giờ cùng đến gặp Quan lang nếu không phải vào dịp làm lễ cúng Mường Ma với Mường Trời, hơn nữa họ lại đến một cách vội vã giữa buổi ban trưa thế này. Ả Đặng không hiểu được rốt cuộc là chuyện gì?”

Thằng Sang thấy chuyện hình như cũng có vẻ nghiêm trọng nên không dám nhận xét gì. Cả bọn im lặng ngồi đợi. Hơn một nửa tiếng sau thấy năm người mà Ả Đặng nói là vai vế nhất trong bản từ trong hang đi ra, không ai nói gì với ai. Ả Đặng từ xa nhìn thấy vừa cất tiếng gọi vừa chạy tới: “Bộ! Bộ, có chuyện gì mà cả năm người cùng lên đây thế?”

Tộc trưởng nhìn con gái nói: “Con cứ lo chuyện của mình, nếu là chuyện cần phải nói ta tự khắc sẽ nói với con. Thôi dẫn các bạn vào dùng cơm trưa, đã trễ rồi.”

Nói rồi năm người bỏ xuống núi, các vị khác đều đưa mắt nhìn Ả Đặng như có ý tạm biệt, nhưng không ai nói gì.

Bọn chúng tôi dùng cơm với nhau trong hang, cũng chỉ toàn nói chuyện vui vẻ, tán dóc chém gió. Ả Đặng cùng cười nói, nhưng tôi vẫn thấy trong mắt nàng có điều bất an. Nàng đi lấy một số cuốn sách cho chúng tôi xem, lật giở mấy trang nói: “Đây là bản đồ nước ta thời Văn Lang, trong này còn có hình vẽ các nhân vật hoàng gia nữa. Tất cả đều là hình thật cả đấy các bạn ạ.”

Chúng tôi mải mê nhìn các hình vẽ chân dung, rất sinh động, làm cho câu chuyện của Quan lang càng hiện rõ hơn trong trí tưởng tượng của chúng tôi. Trong sách tôi thấy có hình của Hùng Vương, của Quan lang thời ấy, của các vị Lạc tướng, và có cả của nàng Mỵ Nương nữa, quả là xinh đẹp tuyệt trần, nhưng đẹp theo một cách rất khác với hiện nay mà tôi không sao diễn tả được. Có một chút hoang dã, một chút quý phái, một chút kiêu sa, một chút mộc mạc, đôi mắt tròn xoe như thâu cả bầu trời trong ấy, sóng mũi vươn cao, hai gò má thanh tú, vầng trán rộng. Mỵ Nương trong hình để tóc dài, trên đầu đội một chiếc mũ có gắn lông chim hạc. Nàng mặc áo lông rất cầu kì. Tôi trộm nghĩ có lẽ nàng cần mặc vậy để người ta họa chân dung cho nó đẹp, còn bình thường thì chắc khác. Một điểm nữa tôi nhận ra là nàng Mỵ Nương này với Ả Đặng thoạt trông cũng khá giống nhau, hay là do con gái đẹp cũng đều giống nhau cả, tôi cũng không biết. Thằng Sang thì cứ xuýt xoa mãi, thằng Hùng thì toan chụp ảnh nhưng Ả Đặng không cho.

Tôi nhận xét: “Ở thời sơ sử ấy mà công nghệ ghi chép vẽ tranh lại phát triển tới thế này ư? Trước giờ đọc sách Nam vẫn luôn nghĩ thời ấy dân mình còn hoang dã lắm, cả chữ cũng còn chưa biết nói gì tới việc vẽ tranh ảnh với đường nét sống động thế này.”

Ả Đặng nói: “Đến đời Hùng Vương thứ mười tám thì văn minh nước ta đã phát triển lắm rồi, lại tiếp xúc nhiều với văn minh phương bắc nữa. Các dòng dõi Quan lang nhà Ả Đặng tự phát triển được một hệ thống chữ viết và cách chép sử riêng. Loại chữ viết ấy ban đầu cũng định đưa ra phổ biến trong dân nhưng chưa kịp làm thì nước ta rơi vào thời Bắc thuộc. Người Trung Hoa đàn áp tất cả mọi hoạt động văn hóa bản địa và đồng hóa ta với văn minh nước họ. Từ ấy chữ nho của người Hoa mới chiếm vị trí độc tôn trong suốt một quãng lịch sử dài đằng đẵng của nước ta. Nhưng các Quan lang muốn bảo tồn tinh hoa của dòng dõi mình nên không dùng loại chữ ấy, cũng không tiếp thu văn minh của họ. Vậy nên sử sách nhà Ả Đặng không hề mang nặng những đặc điểm của sử sách Trung Hoa, là một bộ sử vô cùng độc đáo và nhất quán.”

Thằng Sang có vẻ không muốn nghe giảng giải lý thuyết dài dòng, bèn nói: “Mấy giờ mới bắt đầu nhỉ.”

Ả Đặng nói: “Chúng ta cũng vào thôi, có lẽ Quan lang đang đợi rồi.”

            Rồi chúng tôi lục đục kéo nhau vào hang bên trong, nơi Quan lang đang ngồi sẵn, cũng ở vị trí ấy. Trong hang thắp nhiều đuốc nên rất sáng. Quan lang đang xem sách, thấy chúng tôi ông ngẩng lên rồi lại cúi xuống nói: “Mấy đứa ngồi cả vào đây.”

            Chúng tôi sắp xếp vị trí y hồi sáng, tạo thành một vòng bán nguyệt bao quanh Quan lang. Ả Đặng toan lên tiếng hỏi gì đó thì Quan lang đã nói trước: “Mấy ngày nay nếu rảnh rỗi thì con nên dắt mọi người dạo qua đỉnh Mường Ma và Mường Trời tham quan. Càng hang thờ bên trong ấy ta cho phép các con tùy ý ra vào tìm hiểu.”

            Ả Đặng cúi đầu nói: “Con biết rồi ạ.”

            Quan lang lật cuốn sách ra. Một lần nữa đuốc trong hang tự động tắt ngúm hết, chỉ còn lại một ánh nến leo lắt cháy ở giữa chúng tôi tỏa ra một thứ ánh sáng ma mị. Mùi hướng ấy lại thoảng đến ru tất cả chúng tôi vào trạng thái vừa hư vừa thực. Tiếng Quan lang đều đều vang lên: “Các con còn nhớ câu chuyện tới đâu rồi chứ?”

            Chúng tôi đồng thanh đáp nhớ. Quan lang lại nối tiếp câu chuyện về thời Hùng Vương.