Chương 1

Like & Share:

Trước khi thành Tỵ Tuyết được dựng lên ở phương Đông, đất ấy có tên là Long Biên. Mặt phía tây Long Biên có dãy núi đá vô danh nằm sâu trong rừng già, cao chỉ hơn trăm trượng, gối đầu lên con sông Lộ. Dưới chân núi có hang đá sâu ngàn thước, tương truyền là nơi ở của tộc Hồ.

Hồ lang quân khi đó là con cáo sống cả ngàn năm, pháp lực cao cường, thường hóa thành người bình thường du ngoạn khắp nơi.

Ở vùng Long Biên dân chúng tụ họp thành một khu, gọi là Lạc, trong đó có người Mán. Người Lạc Mán thường chọn nơi chân núi giáp với đồng bằng, kết nhà gỗ mái cỏ làm nơi cư trú đã mấy đời nay. Họ thờ phụng thần núi, coi đó là tổ tiên của mình.

Trong những truyền thuyết từ xa xưa lưu truyền xuống, thần núi mặc áo trắng, tóc xanh tết thành lọn, dạy người Mán trồng lúa, chăm sóc cây ăn quả, lại truyền cho các thợ săn trong Lạc tài bắn nỏ trăm phát trăm trúng.

Ở mỗi nơi người Mán cư trú đều có am thờ, gọi là am Bạch Y Thần.

Hồ lang quân biết chuyện, giả dạng thành Bạch Y Thần hiển linh vào những đêm lễ hội cuối năm, dẫn dụ trai gái cùng ca cùng hát rồi bắt về động Hồ. Người bị bắt, chẳng bao giờ thấy quay về nữa. Người Mán trong vùng rất sợ, thường gọi đó là nạn Bạch Hỏa, bởi vì mỗi lần Hồ lang quân kéo người đi, thường hóa thành một ngọn lửa trắng dẫn đường.

Tin tức đến tai Hoạn Đồng, chúa của bảy mươi Lạc. Hoạn Đồng giận lắm, treo một giải thưởng bảy ngàn kiềng vàng cho ai trừ được Hồ lang quân. Tin này vừa ra, vũ lâm tráng sĩ, lục địa pháp sư, nhân gian thần tiên, đủ mọi loại người, nô nức tụ tập về đất Long Biên, săn giết con cáo ngàn năm ấy.

ooo

‘Có một vị đạo sĩ, xưng là Lương Ngọc chân nhân, theo dấu vết của Hồ lang quân tìm tới hang đá bên sông Lộ. Hai bên đại chiến bảy ngày bảy đêm, cuối cùng Lương Ngọc chân nhân há miệng phun ra một thanh bảo kiếm. Thanh bảo kiếm ấy đỏ như máu, theo gió mà lên, nơi nào nó đi qua đều bị thiêu đốt thành tro tàn. Hồ lang quân trông thấy thanh kiếm này liền sợ hãi trốn vào động Hồ, nhưng tốc độ kiếm quá nhanh, chạy không thoát. Thanh kiếm xuyên qua ngang lưng Hồ lang quân, đóng đinh nó vào vách đá trong hang.

Lương Ngọc chân nhân khi ấy đã lấy tinh huyết bản thân để tạo thành kiếm, cũng cãn kiệt sức lực mà ngã xuống. Thân thể ngài hóa thành một gò đá lớn bịt kín cửa hang. Về sau dân chúng cảm ân dựng một tòa miếu nhỏ bao trùm lấy gò đá, gọi là miếu Chân Nhân.’

ooo

Tiếng chiêng trống bừng lên rộn rã, buổi biểu diễn múa rối vừa kết thúc trong cao trào. Những đồng xu bạc trắng ném rào rào lên sàn gỗ được dựng giữa đình, lấp lánh dưới ánh sáng rực rỡ của những chiếc đèn giăng khắp nơi.

Hôm nay là ngày lễ cuối vụ truyền thống của các Lạc trong vùng.

“Thật không tưởng được, ở nơi hẻo lánh xa xôi này lại có thể xem được một hồi kịch rối đặc sắc đến như vậy.” – Mân mê cái chén sành thô kệch, người đàn ông trung niên ngồi trong quán nước dựng tạm bên sân đình vừa cười vừa nói – “Quả thật càng đi càng thấy nhiều hiếm lạ.”

– Ha ha, bác hai, mỗi năm tôi đều đến đây một lần, mỗi một lần đều nghe cái gánh rối này kể một truyền thuyết khác nhau về Hồ lang quân.

Ngồi bên cạnh người đàn ông ấy là một chàng trai có vẻ thư sinh, mặc một bộ áo trắng, tóc vấn cao thành búi, vỗ tay nói:

– Để tôi nhớ xem, năm trước họ bảo là con Hồ yêu này bị một nữ pháp sư, vốn dòng dõi chuyên trừ ma trảm yêu tận bên mạn nam, dùng Linh La Lăng treo cứng ở trong hang. Năm trước nữa thì họ nói có một vị hiệp sĩ võ nghệ cao cường, tay phải cầm Du Thiên kiếm, tay trái khiển Bạt Sơn đao, hai ba chiêu đã cắt đứt mấy cái đuôi cáo. Hồ yêu mất đuôi thì mất hết pháp lực ngàn năm, phải hóa thành mây mù chạy đi mất.

– Chuyện trong dân gian, có nhiều dị bản cũng là bình thường. Thế nhưng chú xem, gánh rối này chỉ có ba người, hai người biểu diễn, một người đánh nhạc. Vậy mà họ có thể cùng lúc điều khiển tám con rối, sử dụng tới ba nhạc cụ. Phần lanh tay lẹ mắt này không thể không tán thưởng, đúng không Sinh Thần?

Vừa nói, người đàn ông vừa quay sang hỏi một đứa trẻ trạc bảy tám tuổi đang ngồi bên cạnh. Từ đầu buổi diễn đến giờ thằng bé hầu như chỉ ngồi yên một chỗ, chăm chú vừa gặm một tấm bánh nướng trong tay vừa theo dõi trên sân khấu, hoàn toàn không có vẻ hiếu động như những đứa trẻ cùng tuổi.

Gã thư sinh nhìn nhìn thằng bé, tự dưng cảm thấy mình phải đánh giá một câu:

– Bác hai, con trai bác có vẻ ít nói quá nhỉ?

Người đàn ông trung niên cả cười, khẽ xoa đầu thằng bé một cách trìu mến.

– Từ nhỏ nó đã đi khắp nơi với tôi, bạn cùng trang lứa không có bao nhiêu. Suốt ngày cứ lầm lầm lì lì như vậy. Sinh Thần, thế nào, kịch rối ở vùng này là độc nhất đấy, ở bên ngoài không thể xem được đâu.

Sinh Thần nhướng mày, không trả lời cha nó mà bỗng dưng hướng sang gã thư sinh, hỏi:

– Theo lời chú kể thì hình như hồ yêu chưa bao giờ bị giết. Cùng lắm chỉ là phong ấn lại, trói lại hoặc mất hết pháp lực, có phải không ạ?

“Chuyện này, chuyện này.” – Gã thư sinh bị hỏi bất ngờ, đờ mặt ra một lúc, đột nhiên như nhận ra sự thật – “Đúng nhỉ, chưa bao giờ tôi nghe gánh rối này nói Hồ yêu bị giết cả.”

– Ha ha, Sinh Thần, mấy câu chuyện truyền miệng này chỉ có mục đích mua vui cho dân chúng trong lễ hội thôi. Nó không nghiêm túc và chính xác như những truyện con đọc được trong sách đâu. Nếu Hồ yêu bị giết mất thì sự hứng thú của người xem sẽ giảm đi một nửa. Hồ yêu phải sống, để vài năm sau lại có một vị anh hùng đến đánh bại nó. Nếu không có Hồ yêu, thì không có anh hùng. Con hiểu chưa?

Thằng bé gật gật đầu, ra chiều ngẫm nghĩ, cũng không biết là có hiểu không.

Trung niên trông bộ dạng cụ non ấy của con trai mình thì bật cười, nắm tay nó đứng dậy, vừa nói vừa vung tay ra:

– Đến. Thưởng cho mấy người.

Đồng tiền trong tay vị trung niên bắn qua khoảng cách mười mấy thước, đập lên sàn gỗ, lăn đi một đường dài. Ánh sáng vàng lấp lóe chói lọi, khiến những người còn nán lại xung quanh há hốc mồm.

Thưởng cho một đám hát rối bên đường, mà lại dùng đến một đồng vàng.

Sinh Thần thì lại ngoái nhìn gã thư sinh, lúc này đang tự lẩm nhẫm cái gì đó, chẹp chẹp miệng.

Lão già biểu diễn nhìn thấy vị trung niên ra tay hào phóng như vậy thì vô cùng mừng rỡ. Một đồng vàng đủ để một gia đình ăn tiêu cả năm trời, chỉ sợ lão có diễn cả trăm buổi nữa cũng chưa kiếm được. Lão vội vàng nắm tay đứa con gái bên cạnh, lạy phục xuống sát đất để cảm ơn. Kinh nghiệm bao nhiêu năm lăn lộn trong giang hồ cho lão biết, người có thể ra tay như vậy không phú thì quý, chỉ sợ là nhân vật cai quản một vùng.

Sinh Thần liếc nhìn hai người bọn họ một cái, vừa lúc bé gái ngẩng nhìn lên. Trong ánh đèn lấp lóa, nó nhìn thấy một gương mặt tròn như trứng ngỗng, tuy có lem luốc nhưng vẫn không thể che đi đôi má hây hây quả đào. Phía dưới mái tóc rối bù là một cặp mắt sáng đến kỳ lạ, sáng đến long lanh, sáng đến mức dường như đã thu cả hồ trăng vào đáy mắt.

Thế nhưng ánh sáng lạnh lẽo ấy lại khiến nó khẽ nhíu mày.

Cho đến khi gã thư sinh giật mình tỉnh hồn lại thì hai người lớn bé ấy đã đi được một đoạn xa. Gã cũng không đuổi theo, dù sao hai bên cũng chỉ là bèo nước gặp nhau, chỉ lẩm bẩm:

– Hồ yêu chưa bao giờ chết, là thật sao.

ooo

Cứ khoảng sáu tháng, vào mùa cuối vụ, rất nhiều Lạc Mán tập trung lại ở một khoảnh đất trống rộng rãi bằng phẳng. Họ tổ chức lễ ăn mừng kéo dài suốt năm ngày sau đó. Trong lễ hội, người trẻ thì nhảy múa ca hát, chơi các trò chơi dân gian từ sáng đến tối, người lớn tuổi thì tụ tập trong đình uống rượu ăn uống cùng nhau. Mỗi lạc đều đem theo những lu rượu cất ngon nhất, những con lợn con gà béo mập nhất của mình để chia xẻ cùng mọi người.

Họ quan niệm rằng rượu thịt của lạc nào được mọi người ưa chuộng nhất thì thần núi sẽ phù hộ cho nơi đó có một mùa vụ thịnh vượng nhất.

Dần dần những ngày lễ ấy không chỉ gói gọn trong cộng đồng người sống ở trong vùng, mà còn thu hút những đoàn buôn lái, những nghệ nhân, những gánh kịch du ca từ khắp các miền xa tụ tập về đây. Họ tham dự vào lễ hội, bày bán những mặt hàng mẫu của mình, trình diễn những vở kịch rối, những màn tạp kỹ hiếm lạ trong mấy ngày này. Nhiều đoàn đã quen mặt với dân chúng tới mức mỗi năm hai lần, đều được dành cho một chỗ nhất định trong đình để ăn ngủ. Hết lễ hội họ lại tản ra bốn phương, tiếp tục con đường sinh kế, hoặc là di chuyển đến một lễ hội khác trong vùng.

Ở nơi rừng núi hoang vu vắng vẻ này, các lạc thường nằm rải rác cách nhau cả ngày đường. Vì thế vào ngày cuối cùng của lễ hội, trời chưa sụp tối thì những người già cả đều đã trở về lạc của mình, chỉ còn đám trai tráng trẻ trung là vẫn ở lại vui chơi đến những giây phút cuối cùng.

ooo

Trăng mười tám vành vạnh như cái đĩa, treo ở thăm thẳm trời, thả xuống rừng núi một tấm màn mỏng bàng bạc tựa gần tựa xa. Hơi sương lạnh từ trong núi sâu bảng lảng chảy ra, dưới ánh trăng sáng rõ, nhuộm thành một dòng suối mờ mờ ảo ảo.

Hội lạc cuối vụ đã tan.

Từng tốp từng tốp người dấn sâu vào dòng sương khói ấy, xẻ rừng mà đi. Lớn lên ở nơi này mấy chục năm, từng ngọn cây ngọn cỏ, từng khe núi dòng sông đều đã quen thuộc với bọn họ, nhắm mắt cũng có thể đi về lạc. Huống chi là đi dưới ánh trăng rỡ ràng như ngày hôm nay.

Càng về khuya, sương khói càng nhiều, đã sớm phủ ngang thắt lưng người. Một tốp năm người có cả nam lẫn nữ đang di chuyển một cách im lặng trong màn sương. Khác với những tốp khác đã sớm đốt lên những ngọn đuốc gỗ sáng bừng, họ hoàn toàn đi trong bóng tối, với một nhịp điệu di chuyển câm lặng và cứng ngắc.

Trước mặt họ lúc này đã là một khe sâu nằm ẩn mình sau những bụi cây rậm rạp. Người đi đầu vẫn không hề hay biết dù cho nước đã dần dần ngập lên quá đầu gối y. Sâu tận trong bức màn thăm thẳm, những sợi rong vươn lên mặt nước, tựa hồ hóa thành những con rắn xanh, uốn éo chờ đợi.

Chỉ một vài bước nữa.

Bộng có tiếng cồng bất thần vang lên trong vạt rừng, trầm đục mà ngân rền, dội đi dội lại không dứt. Những sợi rong nước tựa như chạm phải một thứ gì ghê gớm lắm, rụt cả lại, chui tọt cả xuống đáy khe.

Tốp năm người lúc này bỗng như sực tỉnh ra khỏi cơn mê, thấy nước đã sấp sánh dưới chân mình lạnh buốt thì đều rú lên sợ hãi. Họ vừa la hét vừa dắt díu nhau lao ngược về bờ, tuôn chạy như ma đuổi ra khỏi vạt rừng quỷ dị, nơi mà chẳng hiểu vì sao họ có thể bước vào.

Tiếng cồng vẫn cứ ngân nga không dứt, từ từ tỏa ra bốn phương tám hướng, hầu như không thể phân biệt được nó xuất phát từ đâu. Lúc thì như chỉ có một chiếc cồng đang cất tiếng, lúc thì như có cả trăm chiếc đang rì rầm, xuyên phá màn sương trắng dày đặc, che chở cho những kẻ đang bỏ trốn.

Mãi đến cả thời thần sau, tiếng cồng mới chấm dứt, một giọng đàn ông trầm tĩnh vang lên:

– Diệu Quan Minh Kim vẫn là khắc tinh của thứ Chướng Nhãn pháp cấp thấp này. Một tiếng rẽ sương khói, hai tiếng xuyên biển lớn, ba tiếng xẻ trời xanh. Nhớ kỹ.

“Dạ, con đã hiểu.” – một giọng nói non nớt đáp lời – “Thế nhưng Minh Kim chỉ là soi thấu màn chướng nhãn, còn không thể trừ diệt được ác linh đúng không cha?”

– Phật pháp vẫn thường nặng về phổ độ, nếu con muốn chủ về tru sát thì nên dùng bùa chú của Đạo pháp, chẳng hạn như tấm bùa Tử Hỏa Thanh Nhãn này. Bùa nay chứa trong nó ba đạo lửa tím, có thể đốt cháy pháp chướng nhãn.

Lời nói vừa dứt đã thấy một tấm giấy đoạn vàng tung bay giữa không trung, chính giữa đạo bùa có vẽ một đôi mắt xanh cực kỳ dữ tợn, lông mày cau lại, tựa hồ xuyên phá qua ngàn vạn pháp chướng. Đạo bùa ấy bùng cháy thành một quầng lửa tím kỳ dị, nó tỏa sáng đến đâu thì màn sương khói xung quanh tiêu tan đến đấy với tốc độ chóng mặt.

Lúc này một giọng nói vang lên, tuy âm trầm lạnh lẽo nhưng vẫn có thể nghe thấy cơn giận vô cùng đang bị kềm nén bên trong:

– Cho hỏi vị cao nhân nơi nào, đến đây phá pháp của ta?